Cao Bằng khơi thông điểm nghẽn, đưa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thành động lực tăng trưởng
Ngày 5/5, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo (BCĐ) đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST&CĐS) tỉnh Cao Bằng Phan Thăng An chủ trì cuộc họp BCĐ về thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển KHCN, ĐMST&CĐS Quốc gia, đánh giá kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW 4 tháng đầu năm; triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý II năm 2026.
Nghị quyết số 57 và các nhiệm vụ KHCN, ĐMST&CĐS được triển khai đồng bộ
Báo cáo tại cuộc họp cho thấy, 4 tháng đầu năm 2026, công tác triển khai Nghị quyết số 57 và các nhiệm vụ KHCN, ĐMST&CĐS được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Công tác lãnh, chỉ đạo được thực hiện quyết liệt, kịp thời, BCĐ ban hành đầy đủ các kế hoạch, chương trình hành động, hệ thống văn bản cụ thể hóa nghị quyết, tạo hành lang pháp lý cho tổ chức thực hiện.
Năm 2026, tỉnh được giao 250 nhiệm vụ gồm: 88 nhiệm vụ thường xuyên đang triển khai thực hiện và 162 nhiệm vụ có thời hạn. Đến ngày 5/5/2026, có 133 nhiệm vụ đã hoàn thành đúng hạn; 11 nhiệm vụ đã hoàn thành nhưng quá hạn; 14 nhiệm vụ đang tiến hành đúng hạn và 4 nhiệm vụ đang tiến hành nhưng đã quá hạn.

Tổng kinh phí năm 2026 bố trí cho KHCN, ĐMST&CĐS là 101,085 tỷ đồng (đã phân bổ 100%), trong đó, 40,475 tỷ đồng cho KHCN và ĐMST; 60,61 tỷ đồng cho CĐS. Đến nay, tỉnh đã giải ngân 2,79 tỷ đồng (2,76%).
Hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác CĐS tiếp tục được củng cố, hạ tầng viễn thông duy trì với 1.604 trạm BTS; triển khai ngầm hóa 90,4 km cáp viễn thông và thí điểm cửa khẩu số tại Tà Lùng, Trà Lĩnh.
Công tác cải cách thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến được đẩy mạnh theo mô hình “Một cửa số”; tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt 87,38%, cấp kết quả điện tử đạt 87,45%, hồ sơ trực tuyến đạt 79,1%, thanh toán trực tuyến đạt 58,8%.
Các hệ thống thông tin, nền tảng số phục vụ công tác Đảng và chính quyền được triển khai thống nhất, hiệu quả. Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu (LGSP) hoạt động ổn định, sẵn sàng kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia; công tác số hóa tài liệu được triển khai nhưng khối lượng còn lớn (khối chính quyền còn trên 5,9 triệu trang; khối đảng còn trên 13,9 triệu trang).
Công tác an toàn thông tin, an ninh mạng được tăng cường, bảo đảm bảo mật dữ liệu, 100% hồ sơ điện tử được bảo vệ theo tiêu chuẩn mật mã, chủ động phòng ngừa rủi ro mất an toàn thông tin.
Tỉnh tiếp tục triển khai 2 nhiệm vụ trọng tâm, bao gồm xây dựng Đề án phát triển, ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2030 và thực hiện đề tài khoa học cấp tỉnh phục vụ xây dựng chương trình nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ một số lĩnh vực và địa phương.
UBND tỉnh cũng đã ban hành kế hoạch cải thiện Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) giai đoạn 2026 - 2030, làm cơ sở thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; nghiên cứu thành lập Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, tăng cường kết nối, ươm tạo ý tưởng và phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Đồng thời triển khai hiệu quả thỏa thuận hợp tác giữa 5 tỉnh, thành phố Việt Nam và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc), tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực hạ tầng, logistics, du lịch, kinh tế cửa khẩu, đẩy mạnh hợp tác về KHCN, ĐMST&CĐS, nhất là ứng dụng công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội.
Tập trung xóa các “vùng lõm” sóng di động, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới
Kết luận cuộc họp, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phan Thăng An yêu cầu các cấp, ngành tiếp tục quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW; xác định KHCN, ĐMST&CĐS là động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng. Đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, bảo đảm mỗi nhiệm vụ được triển khai phải có sản phẩm cụ thể, tiến độ rõ ràng và kết quả đo lường được.
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phan Thăng An cũng yêu cầu tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; đặc biệt lưu ý đôn đốc các nhiệm vụ chậm tiến độ, quá hạn, không để tình trạng chậm trễ kéo dài.
Đi liền đó là thúc đẩy kết nối, vận hành đồng bộ các nền tảng số; nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng các phần mềm, ứng dụng; rà soát, đánh giá để loại bỏ những ứng dụng kém hiệu quả, đồng thời đẩy mạnh CĐS trong các cơ quan Đảng thông qua các phần mềm như sổ tay đảng viên điện tử, quản lý khi lưu trữ, tài chính - tài sản Đảng…
Đặc biệt, tập trung xóa các “vùng lõm” sóng di động, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới bảo đảm người dân được tiếp cận với CĐS một cách bình đẳng; tổ chức rà soát, đánh giá thực trạng, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện từng địa bàn...
Một điểm nhấn quan trọng là xây dựng nguồn nhân lực phục vụ CĐS; chủ động rà soát, xây dựng phương án tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng; tham mưu ban hành cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao.
Cùng với đó, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện, nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả; đồng thời nhận diện, tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo điều kiện để KHCN, ĐMST&CĐS thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội./.