Xây dựng mô hình nuôi rươi kết hợp trồng lúa hữu cơ tại Nghệ An
Dự án ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) trong mô hình nuôi rươi kết hợp trồng lúa hữu cơ tại huyện Hưng Nguyên (tỉnh Nghệ An) đã cho kết quả khả quan, nâng cao rõ rệt năng suất và hiệu quả kinh tế. Mô hình không chỉ góp phần bảo tồn nguồn lợi rươi tự nhiên mà còn mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững, gắn với sản phẩm OCOP địa phương.
Sáng ngày 21/4/2026, Sở KH&CN Nghệ An đã tổ chức Hội đồng nghiệm thu dự án “Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng mô hình nuôi rươi kết hợp trồng lúa theo hướng hữu cơ tại huyện Hưng Nguyên”. Dự án do Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN chủ trì, PGS. TS Nguyễn Quang Huy làm chủ nhiệm.

Rươi biển là loài giun nhiều tơ sống ở vùng cửa sông ven biển, có giá trị kinh tế cao và giàu dinh dưỡng. Tại Nghệ An, rươi trước đây phân bố rộng nhưng hiện chủ yếu còn ở xã Lam Thành (Hưng Nguyên), với mô hình nuôi kết hợp trồng lúa khoảng 60 ha theo hai hình thức: 1 vụ lúa - 1 vụ rươi/năm và 2 vụ lúa - 1 vụ rươi/năm.
Tuy nhiên, canh tác rươi - lúa nơi đây còn mang tính quảng canh và chưa hoàn toàn theo chuẩn hữu cơ, năng suất rươi thấp và thiếu ổn định. Các giống lúa truyền thống được trồng trên đất ruộng rươi ở địa phương như X33, Nếp 98, VTNA2, VR20, TBR225 chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhìn chung, năng suất nuôi rươi còn thấp (8 - 10 kg/sào, tương đương 160 - 200 kg/ha) và thiếu tính ổn định so với các địa phương có truyền thống canh tác rươi - lúa hữu cơ ở phía Bắc. Đồng thời, việc chưa áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng làm giảm hiệu quả kinh tế trong canh tác lúa - rươi kết hợp.
Vì vậy, dự án “Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng mô hình nuôi rươi kết hợp trồng lúa theo hướng hữu cơ tại huyện Hưng Nguyên” được triển khai nhằm ứng dụng KH&CN để phát triển mô hình rươi - lúa theo hướng hữu cơ, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Dự án còn góp phần bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn lợi rươi hiệu quả hơn, từng bước hình thành sản phẩm hữu cơ, sản phẩm OCOP từ rươi, lúa, qua đó nâng cao thương hiệu và giá trị các sản phẩm như rươi, chả rươi, mắm rươi và lúa bãi rươi ở xã Lam Thành; đồng thời thực hiện mục tiêu nông nghiệp hữu cơ của tỉnh Nghệ An.
Hoàn thiện mô hình canh tác rươi - lúa hữu cơ
Tại buổi nghiệm thu, chủ nhiệm dự án đã báo cáo kết quả triển khai, trong đó mô hình nuôi rươi thương phẩm kết hợp trồng lúa theo hướng hữu cơ đã được xây dựng thành công, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, đồng thời hình thành vùng nguyên liệu bền vững tại xã Lam Thành.

Dự án đã đánh giá hiện trạng và tiềm năng canh tác rươi - lúa, lựa chọn được địa điểm và hộ dân phù hợp để thực hiện mô hình. Theo kết quả khảo sát, địa điểm được lựa chọn là vùng canh tác 1 vụ lúa - 1 vụ rươi/năm của các hộ dân thuộc xóm Châu Nhân 6, xã Lam Thành với diện tích 3,035 ha, có 11 hộ dân tham gia. Đây là vùng canh tác lúa - rươi theo hướng hữu cơ truyền thống (không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học, chủ yếu dùng phân hữu cơ). Nguồn nước phục vụ sản xuất được lấy từ sông Lam theo chế độ thủy triều. Chất lượng nước phù hợp cho phát triển rươi và lúa, với các chỉ số: pH 7,4 - 8,2; độ kiềm 80 - 85 mg CaCO₃/L; độ mặn < 2‰.
Mô hình được triển khai qua 2 vụ canh tác năm 2024 và 2025 với những cải tiến kỹ thuật được áp dụng bao gồm: Thử nghiệm trồng giống lúa mới có giá trị kinh tế cao là ST25, bổ sung giống rươi nhân tạo và cải tiến kỹ thuật canh tác, bao gồm sử dụng chế phẩm sinh học Compost maker xử lý phân chuồng trước khi bón vào ruộng.
Qua 2 năm canh tác, giống lúa ST25 đã chứng tỏ sự phù hợp ở ruộng rươi, năng suất lúa ổn định, trung bình đạt 4,85 tấn/ha/vụ, vượt yêu cầu đề ra là 3,5-4,0 tấn/ha.
Năng suất rươi ở vụ thứ nhất (2024) đạt 211,5 kg/ha, tăng lên 301,5 kg/ha ở vụ thứ 2 (2025), đáp ứng yêu cầu đề ra 300-350 kg/ha. Năng suất rươi trung bình của 2 vụ là 256,5 kg/ha, cao hơn 38,6 % so với các hộ đối chứng (không bổ sung giống nhân tạo).
Về hiệu quả kinh tế, lợi nhuận trung bình của mô hình qua hai năm đạt 86,4 triệu đồng/ha, trong đó vụ thứ 2 đạt trên 100 triệu đồng/ha, cao hơn 35% các hộ dân đối chứng (giống lúa truyền thống, không bổ sung giống rươi nhân tạo và cải tiến kỹ thuật).
Kết quả phân tích rươi về các chỉ tiêu an toàn thực phẩm (chỉ tiêu vi sinh, kim loại nặng và tồn dư thuốc bảo vệ thực vật) qua 2 năm đều cho thấy chỉ tiêu về kim loại nặng, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật đều ở ngưỡng an toàn.
Thông qua thực hiện mô hình, quy trình canh tác lúa rươi hữu cơ phù hợp với điều kiện ở địa phương đã được hoàn thiện, sẵn sàng phục vụ cho công tác tập huấn nhân rộng mô hình.
Dự án cũng đã đã đào tạo được 5 cán bộ kỹ thuật và 50 hộ dân nắm vững kỹ thuật canh tác lúa rươi theo hướng hữu cơ. Đã xuất bản 3 bài báo khoa học, 02 bản tin về hoạt động của dự án được xuất bản và 01 phóng sự truyền hình về hoạt động và kết quả của dự án.

Hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
Dự án đã góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân tham gia mô hình. Hiệu quả kinh tế tăng hơn 35% so với hình thức canh tác truyền thống, mô hình canh tác ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đã giúp 11 hộ dân có nguồn thu ổn định và cao hơn, giảm rủi ro trong sản xuất nông nghiệp và khai thác hiệu quả của hệ sinh thái ruộng lúa - rươi.
Thông qua quá trình triển khai dự án, nhận thức và trình độ sản xuất của người dân được nâng cao rõ rệt. Các hộ dân từng bước tiếp cận và làm chủ quy trình canh tác hữu cơ, thay đổi tập quán sản xuất theo hướng an toàn, giảm phụ thuộc vào vật tư nông nghiệp hóa học.
Ngoài ra, dự án còn có ý nghĩa trong việc bảo tồn và phát huy tri thức bản địa, kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm canh tác truyền thống với tiến bộ khoa học kỹ thuật, góp phần phát triển canh tác theo hình thức hữu cơ, canh tác bền vững.
Mô hình canh tác lúa - rươi theo hướng hữu cơ đã mang lại tác động tích cực đến môi trường sinh thái nông nghiệp. Việc không sử dụng hoặc hạn chế tối đa phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đã góp phần giảm ô nhiễm đất, nước và không khí trong khu vực triển khai dự án. Kết quả phân tích cho thấy rươi thương phẩm đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm, phản ánh môi trường canh tác không bị ô nhiễm.
Dự án góp phần bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học trong hệ sinh thái ruộng lúa. Hoạt động sinh học của rươi còn giúp cải thiện chất lượng và độ phì nhiêu của đất canh tác, làm đất tơi xốp, tăng hàm lượng chất hữu cơ tự nhiên, từ đó nâng cao năng suất lúa và giảm chi phí đầu vào cho các vụ sản xuất tiếp theo.
Nhìn chung, dự án đã góp phần xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái, an toàn và bền vững, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh của tỉnh Nghệ An.
Đẩy mạnh, nhân rộng mô hình canh tác rươi - lúa hữu cơ
Kết quả dự án cho thấy mô hình canh tác rươi - lúa hữu cơ mang lại hiệu quả cao hơn so với phương thức truyền thống cả về năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế. Chất lượng rươi đảm bảo các tiêu chí an toàn thực phẩm. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho việc nhân rộng mô hình trong những năm tiếp theo.
Kết quả này cũng khẳng định việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật (chọn giống lúa mới, bổ sung giống rươi nhân tạo, canh tác theo hướng hữu cơ, cải tiến kỹ thuật) là hướng đi đúng để nâng cao năng suất rươi và hiệu quả kinh tế cho người dân. Đồng thời tạo ra được các sản phẩm lúa, rươi chất lượng cao, tạo tiền đề cho việc xây dựng thương hiệu và phát triển các sản phẩm hữu cơ, sản phẩm OCOP về lúa, rươi trên địa bàn xã. Canh tác rươi - lúa theo hướng hữu cơ cũng góp phần bảo tồn loài đặc sản quý này trên diện tích có rươi phân bố tự nhiên còn lại của tỉnh.
Dự án cũng góp phần bảo tồn nguồn rươi tự nhiên và tạo cơ sở khoa học để nhân rộng mô hình, chuyển đổi các diện tích canh tác kém hiệu quả sang mô hình rươi - lúa hữu cơ. Qua đó góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp truyền thống.
Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao tính khoa học, tính cấp thiết cũng như khả năng ứng dụng và đồng ý nghiệm thu./.