KH&CN địa phương

Số hóa quản lý, bảo vệ rừng ở Quảng Trị: Từ công cụ hỗ trợ đến nền tảng quản trị

Bích Việt 10/04/2026 07:45

Từ phương thức tuần tra thủ công, phụ thuộc vào kinh nghiệm, Quảng Trị đang từng bước hình thành hệ thống giám sát dựa trên dữ liệu, cho phép phát hiện sớm biến động tài nguyên, nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng và mở ra hướng tiếp cận quản trị lâm nghiệp hiện đại, bền vững.

Dữ liệu số “lấp khoảng trống” quản lý rừng

Đặc thù diện tích rừng lớn, phân bố ở khu vực miền núi, biên giới với địa hình chia cắt khiến công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Quảng Trị luôn đối mặt với nhiều thách thức. Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm và bảo vệ rừng còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ xuất hiện những “khoảng trống” trong kiểm soát.

Trong nhiều năm, phương thức tuần tra chủ yếu vẫn dựa vào việc cán bộ trực tiếp đi rừng, ghi chép thủ công, tổng hợp báo cáo sau mỗi đợt kiểm tra. Cách làm này không chỉ tiêu tốn thời gian, nhân lực mà còn khiến thông tin bị chậm trễ, khó đáp ứng yêu cầu giám sát kịp thời.

Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, chuẩn hóa dữ liệu đến từng lô, khoảnh và kết nối đồng bộ với hệ thống quản lý đã tạo ra thay đổi đáng kể. Thông tin về diện tích, hiện trạng rừng được chuẩn hóa theo từng lô, khoảnh, tiểu khu và tích hợp trên hệ thống bản đồ số, giúp cơ quan quản lý có cái nhìn tổng thể, chính xác và cập nhật hơn về tài nguyên rừng.

screenshot_1775722105.png
Việc ứng dụng công nghệ số đang tạo ra bước chuyển rõ rệt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Quảng Trị. Ảnh: baoquangtri.vn.

Đáng chú ý, việc kết hợp dữ liệu viễn thám và ảnh vệ tinh cho phép theo dõi diễn biến rừng theo thời gian. Những khu vực có dấu hiệu suy giảm diện tích hoặc biến động bất thường có thể được nhận diện từ sớm, thay vì chờ kiểm tra thực địa như trước.

Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp, BQL rừng phòng hộ Minh Hóa Hoàng Phú Cường cho biết, việc khai thác dữ liệu từ ảnh vệ tinh và bản đồ số giúp đơn vị theo dõi sát diễn biến rừng, kịp thời phát hiện các khu vực có nguy cơ bị xâm hại, từ đó tổ chức kiểm tra, xử lý nhanh hơn, hạn chế thiệt hại tài nguyên.

Không chỉ dừng ở cấp quản lý, công nghệ số còn được đưa trực tiếp vào hoạt động hiện trường. Các ứng dụng cài đặt trên thiết bị di động cho phép cán bộ ghi nhận tọa độ, hình ảnh, tình trạng rừng ngay tại vị trí tuần tra, sau đó đồng bộ về hệ thống dữ liệu.

Giám đốc BQL rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn Thái Văn Sơn cho biết, ưu điểm nổi bật của các ứng dụng này là có thể hoạt động ở chế độ ngoại tuyến. Ngay cả trong điều kiện không có sóng điện thoại, cán bộ vẫn xác định chính xác vị trí lô, khoảnh, ghi nhận thông tin hiện trường và cập nhật dữ liệu kịp thời, hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Thực tế triển khai cho thấy, dữ liệu số không chỉ giúp nâng cao độ chính xác mà còn thay đổi cách phân bổ nguồn lực. Các khu vực có nguy cơ cao được xác định rõ ràng, giúp lực lượng chức năng tập trung kiểm soát giúp xác định trọng điểm kiểm tra hiệu quả hơn.

Từng bước hình thành hệ thống quản trị rừng thông minh

Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý, bảo vệ rừng tại Quảng Trị không dừng lại ở việc hỗ trợ công tác kiểm tra mà đang từng bước hình thành cách quản lý rừng dựa trên dữ liệu và cảnh báo sớm. Các nền tảng dữ liệu số cho phép tích hợp thông tin từ nhiều nguồn, từ bản đồ hiện trạng rừng, dữ liệu viễn thám đến thông tin cập nhật từ hiện trường. Nhờ đó, cơ quan quản lý có thể theo dõi liên tục, phát hiện sớm các điểm nóng về phá rừng, khai thác trái phép hoặc suy giảm chất lượng rừng.

Việc sử dụng thiết bị định vị GPS kết hợp với phần mềm bản đồ chuyên dụng giúp cán bộ xác định chính xác vị trí từng lô rừng, kể cả ở khu vực vùng sâu, vùng xa, nơi hạ tầng viễn thông chưa phát triển.

82.jpg
Lực lượng kiểm lâm sử dụng công nghệ hiện đại để kiểm tra diễn biến rừng. Ảnh: thiennhienmoitruong.vn.

Ở góc độ quản lý ngành, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị Phan Văn Phước cho rằng, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số là xu hướng tất yếu, không chỉ phục vụ công tác bảo vệ rừng mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo định hướng này, ngành lâm nghiệp địa phương sẽ tiếp tục đầu tư trang thiết bị chuyên ngành, đào tạo kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ và huy động thêm nguồn lực để nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong quản lý, bảo vệ rừng.

Không chỉ phục vụ giám sát, dữ liệu số còn mở ra khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác như quy hoạch lâm nghiệp, phòng cháy chữa cháy rừng, theo dõi biến động tài nguyên và phát triển kinh tế lâm nghiệp theo chuỗi giá trị. Đặc biệt, việc số hóa tài nguyên rừng tạo nền tảng cho các cơ chế mới như truy xuất nguồn gốc lâm sản, quản lý rừng theo tiêu chuẩn quốc tế và tham gia thị trường carbon, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xanh.

Có thể thấy, chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản cách tiếp cận trong quản lý, bảo vệ rừng. Từ chỗ phụ thuộc vào kinh nghiệm và nhân lực, công tác này đang chuyển sang dựa trên dữ liệu, công nghệ và hệ thống cảnh báo sớm. Trong bối cảnh áp lực lên tài nguyên rừng ngày càng gia tăng, việc xây dựng hệ thống quản trị rừng dựa trên nền tảng số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho ngành lâm nghiệp trong dài hạn./.

Bích Việt