KH&CN địa phương

Bảo tồn và phục tráng thành công nguồn gen hai giống gạo nếp đặc sản của Quảng Ngãi

Nguyễn Văn Bình, Sở KH&CN Quảng Ngãi 27/03/2026 13:33

Hai giống gạo nếp đặc sản của Quảng Ngãi - nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút - từ lâu đã gắn bó với đời sống sản xuất và văn hóa ẩm thực của người dân tỉnh Quảng Ngãi. Việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển nguồn gen lúa nếp đặc sản truyền thống của địa phương mang lại chất lượng hạt gạo nếp tăng cao và thu nhập cho bà con.

Thực trạng canh tác và nguy cơ thoái hóa giống

Hiện nay, nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút đều nằm trong danh mục bảo tồn và phát triển nguồn gen của Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên.

Dù vậy, trên thực tế, hai giống lúa nếp đặc sản này đang đối mặt với tình trạng pha tạp và thoái hóa nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và giá trị thương phẩm.

Để đánh giá toàn diện hiện trạng, nhóm nghiên cứu từ Trường Đại học Quy Nhơn đã triển khai đề tài “Điều tra, thu thập, đánh giá và bảo tồn nguồn gen giống nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút địa phương tại tỉnh Quảng Ngãi” do TS. Nguyễn Thanh Liêm làm chủ nhiệm.

Nghiên cứu tập trung khảo sát thực tế sản xuất, phân tích đặc điểm giống và đề xuất giải pháp phục tráng phù hợp.

Kết quả khảo sát 60 hộ nông dân tại thị xã Đức Phổ (cũ) cho thấy, nếp Ngự Sa Huỳnh chủ yếu được canh tác trong vụ Đông Xuân, với diện tích ngày càng thu hẹp qua các năm.

Năng suất trung bình chỉ dao động từ 30 - 40 tạ/ha. Phần lớn nông dân vẫn áp dụng phương pháp sạ lan thủ công (chiếm 88,33%), trong khi toàn bộ khâu thu hoạch đã cơ giới hóa bằng máy gặt đập liên hợp.

Tình trạng tương tự cũng được ghi nhận đối với nếp Cút tại huyện Tư Nghĩa (cũ). Qua điều tra 60 hộ dân, diện tích canh tác giống nếp này giảm mạnh theo thời gian, mỗi năm chỉ sản xuất một vụ, năng suất đạt khoảng 20 - 30 tạ/ha.

Theo ông Nguyễn Hoành Sơn, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Phổ Châu, nếp Ngự Sa Huỳnh là đặc sản lâu đời của địa phương, đã được xây dựng nhãn hiệu tập thể. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay chính là nguồn giống bị thoái hóa, không còn giữ được độ thuần và chất lượng như trước.

Nhóm nghiên cứu cũng xác nhận thực trạng này khi trực tiếp thu thập giống từ ruộng của nông dân: Các cá thể lúa đã bị phân ly rõ rệt, nhiều đặc tính quý như mùi thơm, độ dẻo bị suy giảm đáng kể.

Đánh giá, tuyển chọn và phục tráng nguồn gen quý

Trước nguy cơ mai một nguồn gen, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập 100 mẫu nếp Ngự Sa Huỳnh và 100 mẫu nếp Cút để phân tích, đánh giá chất lượng và đặc tính di truyền.

Kết quả cho thấy, dù bị thoái hóa, khả năng nảy mầm của hai giống vẫn ở mức cao: Nếp Ngự Sa Huỳnh đạt từ 87,33 - 97,76%, trong khi nếp Cút đạt trung bình 85,11%. Đây là cơ sở quan trọng để tiến hành phục tráng.

Từ 60 mẫu nếp Ngự được đưa vào phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp phân tích chỉ thị protein (SDS) nhằm xác định các cá thể còn giữ được những đặc tính quý như mùi thơm đặc trưng, hàm lượng amylose thấp và các chỉ tiêu chất lượng mong muốn.

Qua nhiều vòng sàng lọc nghiêm ngặt, các cá thể ưu tú được chọn lọc và nhân lên thành thế hệ G1. Tiếp đó, quá trình tuyển chọn tiếp tục được thực hiện để chọn ra 4 dòng sinh trưởng tốt nhất, đưa vào sản xuất thế hệ G2.

Kết quả cuối cùng, đề tài đã tuyển chọn được 4 dòng nếp Ngự Sa Huỳnh và 4 mẫu nếp Cút có kiểu hình và kiểu gen tương đối đồng nhất.

Không chỉ dừng lại ở phục tráng, nhóm nghiên cứu còn xây dựng hoàn chỉnh bảng mô tả các đặc tính nông sinh học đặc trưng, đồng thời đánh giá đa dạng nguồn gen bằng chỉ thị phân tử.

kiemtranepngu.jpg
ngoai-dong2.jpg
Mô hình trình diễn sản xuất hạt giống siêu nguyên chủng G2 giống nếp Ngự Sa Huỳnh.

Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, độ thuần của giống sau phục tráng đạt mức rất cao, các đặc tính đặc trưng của giống gốc được khôi phục đầy đủ. Đáng chú ý, khả năng chống chịu sâu bệnh cũng được cải thiện rõ rệt so với giống chưa phục tráng.

Nguồn giống tạo ra đạt tiêu chuẩn siêu nguyên chủng, nguyên chủng và xác nhận, đủ điều kiện cung cấp cho sản xuất đại trà, mở ra triển vọng khôi phục và phát triển vùng nguyên liệu nếp đặc sản.

Hoàn thiện quy trình canh tác và xây dựng mô hình trình diễn

Song song với công tác phục tráng giống, nhóm nghiên cứu cũng tập trung hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác nhằm phát huy tối đa tiềm năng của giống.

Thông qua các thí nghiệm thực địa, nhóm đã xác định được công thức bón phân tối ưu, phù hợp với điều kiện canh tác tại địa phương. Trên cơ sở đó, các mô hình trình diễn được triển khai cho cả hai giống nếp.

Đối với nếp Ngự Sa Huỳnh, mô hình trình diễn vụ Đông Xuân 2024 - 2025 cho thấy nhiều kết quả vượt trội. Thời gian sinh trưởng rút ngắn còn 119 ngày, giảm 4 ngày so với đối chứng. Năng suất tăng mạnh, từ mức 180 - 200 kg/sào lên 240 - 260 kg/sào. Với giá thu mua khoảng 20.000 đồng/kg, mỗi sào lúa mang lại thu nhập từ 4 - 5 triệu đồng.

Thực tế sản xuất cũng ghi nhận hiệu quả rõ rệt. Ông Nguyễn Hoành Sơn cho biết năng suất đạt 40 - 45 tạ/ha, cao hơn đáng kể so với mức 30 - 35 tạ/ha trước đây. Đồng thời, chất lượng hạt gạo được cải thiện rõ rệt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường.

Bà Nguyễn Thị Thu, một hộ dân tham gia mô hình, chia sẻ rằng việc sử dụng giống phục tráng và tuân thủ quy trình kỹ thuật đã giúp giảm đáng kể chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Năng suất ruộng đạt khoảng 3 tạ/sào, hạt nếp đẹp, chắc và đồng đều. Người dân mong muốn tiếp tục được cung cấp nguồn giống chuẩn để ổn định sản xuất lâu dài.

Đối với nếp Cút, dự án đã sản xuất được 300 kg giống siêu nguyên chủng và nhân lên 600 kg giống nguyên chủng để triển khai mô hình trên diện tích 3 ha. Nhờ đó, tình trạng thoái hóa, lẫn hạt đỏ và mất mùi thơm đã được khắc phục hoàn toàn.

Một trong những thay đổi quan trọng trong kỹ thuật canh tác là chuyển từ cấy dày sang cấy thưa (2 - 3 tép/khóm), giúp cây phát huy khả năng đẻ nhánh mạnh. Nhờ đó, năng suất bình quân đạt trên 35 tạ/ha.

Ông Bạch Ngọc Hùng, nông dân tại xã Nghĩa Giang, cho biết gia đình ông đã áp dụng kỹ thuật cấy thưa trên diện tích 4.000 m² và đạt năng suất 35 - 36 tạ/ha. Đây là mức năng suất cao so với trước đây, khẳng định hiệu quả của mô hình.

Nhiều hộ dân khác cũng ghi nhận cây lúa khỏe, cứng cáp hơn, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, trong khi chất lượng gạo vẫn giữ được độ dẻo và hương thơm đặc trưng. Từ đó, bà con bày tỏ mong muốn nhân rộng mô hình để sản xuất đại trà.

32.jpg
26.jpg
Mô hình trình diễn giống nếp Cút tại xã Nghĩa Giang.

Ý nghĩa thực tiễn và định hướng phát triển

Đánh giá về kết quả đạt được, TS. Nguyễn Thanh Liêm nhấn mạnh đề tài không chỉ khôi phục thành công nguồn gen có nguy cơ bị mất mà còn góp phần bảo tồn tài nguyên sinh học quý giá của địa phương.

Việc phục tráng thành công hai giống nếp đặc sản giúp giữ gìn những đặc tính quý của giống gốc, đồng thời tạo nền tảng cho việc phát triển vùng chuyên canh lúa nếp, gắn với xây dựng thương hiệu nông sản đặc trưng của Quảng Ngãi.

Bên cạnh đó, nguồn giống chất lượng cao được cung cấp kịp thời cho nông dân sẽ góp phần nâng cao năng suất, tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Đây cũng là tiền đề để phát triển sản xuất theo hướng bền vững, gắn kết giữa khoa học công nghệ và thực tiễn.

Nhóm nghiên cứu kiến nghị tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục hỗ trợ nhân rộng nguồn giống nguyên chủng, mở rộng diện tích sản xuất, đồng thời định hướng phát triển nếp Cút thành sản phẩm OCOP nhằm nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Ngày 16/3/2026, đề tài đã được Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Quảng Ngãi nghiệm thu chính thức với số điểm trung bình 85,6 - một kết quả ấn tượng, ghi nhận nỗ lực và tâm huyết của nhóm nghiên cứu.

quang-canh.jpg
Toàn cảnh buổi nghiệm thu đề tài ngày 16/3/2026.

Tại buổi nghiệm thu, ông Phan Văn Hiếu, Phó Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Quảng Ngãi, đánh giá cao ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Ông cho biết trong thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng các kết quả vào sản xuất đại trà, đồng thời xây dựng kế hoạch mở rộng vùng trồng nhằm phát huy tối đa giá trị của hai giống nếp đặc sản.

Việc bảo tồn và phục tráng thành công nếp Ngự Sa Huỳnh và nếp Cút không chỉ là một thành tựu khoa học mà còn là bước đi quan trọng trong hành trình gìn giữ di sản nông nghiệp truyền thống.

Từ những cánh đồng ở Quảng Ngãi, hai giống nếp đặc sản đang dần lấy lại vị thế, góp phần khẳng định giá trị của nông sản địa phương trong bối cảnh phát triển nông nghiệp hiện đại./.

Nguyễn Văn Bình, Sở KH&CN Quảng Ngãi