[Infographic] 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban Chỉ đạo) vừa ban hành Thông báo số 20-TB/CQTTBCĐ, ngày 16/3/2026 về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ nhất năm 2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo.
Về nhiệm vụ trong thời gian tới, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tập trung thực hiện quyết liệt 7 nhóm nội dung trọng tâm:
.jpg)
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, quan điểm của Đại hội XIV về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) quốc gia là động lực chủ yếu của phát triển đất nước.
Rà soát, chuẩn hóa nội dung kế hoạch năm 2026 và thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ trong quý I/2026 (trong đó có 125 nhiệm vụ chậm tiến độ), các nhiệm vụ tại Thông báo số 17-TB/CQTTBCĐ, ngày 29/12/2025.
Các đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần chú ý nội dung này để bảo đảm các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện nghiêm túc.
Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu KHCN, ĐMST và CĐS phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (DN) và của nền kinh tế.
Phát triển khoa học, công nghệ phải hướng mạnh vào việc giải quyết những bài toán thực tiễn của nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của DN; yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ việc ứng dụng các công nghệ mới, nhất là trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, tự động hóa, công nghệ số và các công nghệ nền tảng vào các ngành sản xuất, dịch vụ và quản trị DN.
Phát triển khoa học, công nghệ phải hướng mạnh vào việc giải quyết những bài toán thực tiễn của nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của DN.
Các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo thúc đẩy ứng dụng KHCN và CĐS ngay trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng DN; rà soát đánh giá các công nghệ đang sử dụng trên các lĩnh vực sản xuất để có biện pháp nâng cấp, chuyển đổi công nghệ, tạo ra năng suất lao động cao hơn, hiệu quả hơn, góp phần trực tiếp thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước.
Việc triển khai phải có lộ trình rõ ràng và dự kiến nguồn lực đầu tư. Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) rà soát các tiêu chuẩn chất lượng bảo đảm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách để phát triển mạnh mẽ KHCN, ĐMST và CĐS.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, các cơ quan, đơn vị cần đặc biệt quan tâm ở khâu thực thi pháp luật; phải đưa thể chế thành lợi thế cạnh tranh quốc gia để phát triển KHCN, ĐMST và CĐS.
Theo đó, các cơ quan Trung ương, địa phương được yêu cầu tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo các Ủy ban của Quốc hội, Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan khẩn trương rà soát toàn diện hệ thống pháp luật có liên quan đến KHCN, ĐMST và CĐS để bổ sung vào định hướng Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI và Chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn tới.
Xem xét những vấn đề cấp bách cần tháo gỡ để bổ sung ngay vào Chương trình Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI.
Những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, thì yêu cầu khẩn trương ban hành, nhất là các quy định liên quan đến cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), sửa đổi, bổ sung cơ chế tài chính, cơ chế mua sắm công đối với sản phẩm công nghệ trong nước, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đổi mới sáng tạo phát triển.
Trong tháng 4/2026, phải hoàn thành 100% các văn bản triển khai các Luật, Nghị quyết đã được Quốc hội thông qua năm 2025.
Các bộ, ngành theo từng lĩnh vực công tác chủ động nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng thể chế của các nước tiên tiến để chọn lọc, tiếp thu, cải tiến phù hợp với Việt Nam nhằm mục tiêu thúc đẩy hơn nữa KHCN, ĐMST và CĐS.
Quá trình thực hiện phải tuân thủ nguyên tắc không rập khuôn, máy móc, phải bảo đảm đầy đủ ba yêu cầu:
Yêu cầu thứ nhất, phù hợp với thể chế chính trị, hệ thống pháp luật và thực tiễn quản lý của Việt Nam.
Yêu cầu thứ hai, khả thi trong triển khai (có cơ chế thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh kịp thời).
Yêu cầu thứ ba, hiệu quả đo lường được bằng kết quả cụ thể, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng, năng suất và ĐMST.
Thứ tư, tập trung tạo lập và hoàn thiện các hạ tầng nền tảng và triển khai các công nghệ chiến lược.
Phải xác định việc xây dựng các hạ tầng nền tảng là nhiệm vụ có tính chiến lược lâu dài của quốc gia, đòi hỏi phải triển khai quy hoạch, đầu tư bài bản, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, tránh phân tán, manh mún.
Các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương rà soát các nhiệm vụ để ưu tiên đầu tư hạ tầng dữ liệu quốc gia, các cơ sở dữ liệu lớn và nền tảng số dùng chung; hạ tầng nghiên cứu - phát triển và các phòng thí nghiệm trọng điểm; hạ tầng ĐMST và hệ sinh thái khởi nghiệp...
Các chương trình, kế hoạch phát triển công nghệ chiến lược phải được triển khai mạnh mẽ hơn nữa; coi công nghệ chiến lược là trụ cột, tạo đột phá tăng trưởng, là thước đo năng lực làm chủ công nghệ và khẳng định tầm vóc, trí tuệ của con người Việt Nam.
Các chương trình, kế hoạch phát triển công nghệ chiến lược phải được triển khai mạnh mẽ hơn nữa; coi công nghệ chiến lược là trụ cột, tạo đột phá tăng trưởng, là thước đo năng lực làm chủ công nghệ và khẳng định tầm vóc, trí tuệ của con người Việt Nam.
Cách làm là phải đi vào thực chất: xác định rõ công nghệ lõi cần làm chủ; bộ, ngành, cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm xuyên suốt; xây dựng lộ trình làm chủ, thương mại hóa và lan tỏa kết quả đến phát triển kinh tế - xã hội.
Các bộ quản lý ngành, đặc biệt là Bộ KH&CN, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải phối hợp chặt chẽ với các tập đoàn, DN hàng đầu, viện nghiên cứu, trường đại học để hình thành chuỗi giá trị công nghệ chiến lược, từ nghiên cứu - phát triển, thử nghiệm - ứng dụng, đến sản xuất - thương mại hóa.
Công nghệ chiến lược phải gắn với nhu cầu, thị trường, sản xuất, giải quyết các bài toán thực tiễn, tạo ra sản phẩm cụ thể, đo lường được bằng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng, góp phần vào tăng trưởng kinh tế 2 con số.
Các bộ quản lý ngành, đặc biệt là Bộ KH&CN, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải phối hợp chặt chẽ với các tập đoàn, DN hàng đầu, viện nghiên cứu, trường đại học để hình thành chuỗi giá trị công nghệ chiến lược, từ nghiên cứu - phát triển, thử nghiệm - ứng dụng, đến sản xuất - thương mại hóa.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Cần có chính sách mạnh mẽ hơn để đào tạo, thu hút và sử dụng hiệu quả đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, nhất là trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, khoa học dữ liệu, an ninh mạng và các công nghệ nền tảng… Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh phổ cập kỹ năng số cho toàn dân, phong trào "Bình dân học vụ số" sâu rộng trong toàn xã hội.
Thứ sáu, bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, phòng, chống tội phạm, tiêu cực trên không gian mạng.
Cần quán triệt nhận thức: bảo đảm an ninh mạng là nhiệm vụ chung, quan trọng của cả hệ thống chính trị, không chỉ là nhiệm vụ riêng của Bộ Công an.
Yêu cầu các cấp, các ngành phải đặc biệt quan tâm đến công tác bảo vệ dữ liệu, phải xác định rõ dữ liệu là tài sản quốc gia, là nguồn lực của đất nước. Nền công nghiệp dữ liệu, thị trường dữ liệu cần được khuyến khích phát triển. Phải khẩn trương xây dựng được hệ thống sản phẩm và bộ tiêu chuẩn quốc gia về bảo vệ dữ liệu.
Nền công nghiệp dữ liệu, thị trường dữ liệu cần được khuyến khích phát triển. Phải khẩn trương xây dựng được hệ thống sản phẩm và bộ tiêu chuẩn quốc gia về bảo vệ dữ liệu.
Các cơ quan, đơn vị khẩn trương có giải pháp tổng thể để khắc phục triệt để các bất cập trong bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng (về nhận thức, nhân lực; ngân sách đầu tư; tiêu chuẩn, quy trình; công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu; môi trường pháp lý chưa được hoàn thiện; hợp tác quốc tế còn hạn chế).
Thứ bảy, tăng cường kỷ luật thực thi trong triển khai thực hiện.
Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân về tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện nhiệm vụ; chịu trách nhiệm cao nhất về việc đăng ký, giải ngân và bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực kinh phí cho các nhiệm vụ được giao.
Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân về tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện nhiệm vụ...
Kết quả triển khai phải được đưa vào tiêu chí đánh giá, thi đua, khen thưởng hằng năm; đồng thời gắn chặt với cơ chế xử lý trách nhiệm đối với những tập thể, cá nhân chậm trễ, thiếu quyết liệt, đùn đẩy, né tránh, không hoàn thành nhiệm vụ. Đây là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong thực thi, tạo chuyển biến thực chất trong toàn hệ thống chính trị.
Việc phân công nhiệm vụ của lãnh đạo các cơ quan, địa phương phải bảo đảm nguyên tắc tập trung, thống nhất, hiệu quả, gắn trách nhiệm quản lý chuyên môn với phân bổ nguồn lực./.