Đổi mới sáng tạo

AI và bản quyền tác phẩm nghệ thuật: Khoảng trống pháp lý cần sớm được làm rõ

Bích Việt 06/03/2026 08:56

Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi cách thức sáng tạo nghệ thuật, đồng thời đặt ra nhiều câu hỏi pháp lý mới về quyền tác giả. Trong bối cảnh đó, việc xác định ai là chủ thể sở hữu bản quyền đối với tác phẩm có sự tham gia của AI đang trở thành vấn đề được giới chuyên môn đặc biệt quan tâm.

AI tạo ra tác phẩm nhưng không phải là “tác giả”

Những năm gần đây, các công cụ AI ngày càng được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật. Chỉ với một vài dòng mô tả, AI có thể tạo ra hình ảnh, bản nhạc, đoạn văn hay kịch bản hoàn chỉnh. Công nghệ này mở ra khả năng sáng tạo mới, giúp rút ngắn thời gian và chi phí sản xuất nội dung.

Tuy nhiên, cùng với sự bùng nổ của các công cụ sáng tạo bằng AI, một câu hỏi pháp lý quan trọng được đặt ra: Nếu một tác phẩm được tạo ra bởi AI thì ai là chủ thể của quyền tác giả?

Theo TS. LS. Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội, pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn giữ nguyên tắc cơ bản rằng quyền tác giả chỉ thuộc về con người.

“Con người là chủ thể của quyền tác giả, phải là người trực tiếp tạo ra tác phẩm. Bởi vậy những tác phẩm hoàn toàn do AI tạo ra sẽ không được công nhận quyền tác giả”, Luật sư Đặng Văn Cường cho biết.

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Yếu tố cốt lõi ở đây là hoạt động sáng tạo trí tuệ của con người.

ai-sang-tac-nhac20240706195327.png
Chỉ với một vài dòng mô tả, AI có thể tạo ra hình ảnh, bản nhạc, đoạn văn hay kịch bản hoàn chỉnh. Ảnh minh họa.

Ngay cả trong Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025, được Quốc hội thông qua ngày 9/9/2025 và dự kiến có hiệu lực từ 1/4/2026, AI cũng chưa được công nhận là chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ. Điều đó đồng nghĩa với việc các sản phẩm do AI tạo ra hoàn toàn tự động sẽ không được bảo hộ quyền tác giả nếu không có sự đóng góp sáng tạo đáng kể của con người.

Trong trường hợp hệ thống AI tự vận hành, không có cá nhân nào can thiệp vào nội dung cụ thể và người quản lý chỉ đơn thuần vận hành hoặc sở hữu công cụ, pháp luật cũng không coi người đó là tác giả. Lý do là bởi họ không trực tiếp thực hiện hành vi sáng tạo.

Thực tế này cho thấy một khoảng trống pháp lý đáng chú ý: Những sản phẩm do AI tạo ra hoàn toàn tự động có thể rơi vào tình trạng không được bảo hộ bản quyền.

Khi AI chỉ là công cụ hỗ trợ sáng tạo

Dù vậy, không phải mọi tác phẩm có sự tham gia của AI đều không được bảo hộ quyền tác giả. Trong nhiều trường hợp, AI chỉ đóng vai trò như một công cụ hỗ trợ quá trình sáng tạo của con người.

Theo TS. LS. Đặng Văn Cường, nếu con người tham gia vào quá trình sáng tạo thông qua việc đưa ra ý tưởng, lựa chọn dữ liệu đầu vào, chỉnh sửa nội dung hoặc kiểm soát kết quả cuối cùng thì phần đóng góp sáng tạo của con người vẫn có thể được bảo hộ quyền tác giả.

“Nếu tác phẩm được tạo ra có sự tham gia sáng tạo của con người, AI chỉ là công cụ hỗ trợ thì sản phẩm có thể được công nhận quyền tác giả cho con người”, Luật sư Đặng Văn Cường phân tích.

Trong thực tiễn sáng tạo hiện nay, ranh giới giữa tác phẩm do con người sáng tạo và sản phẩm do AI tạo ra không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nhiều nghệ sĩ, nhà thiết kế hoặc nhà sáng tạo nội dung sử dụng AI như một công cụ để gợi ý ý tưởng, tạo bản phác thảo ban đầu, sau đó tiếp tục chỉnh sửa, hoàn thiện bằng kỹ năng và tư duy nghệ thuật của mình.

tacquyentacphamamnhaccaaithuocveai.jpg
Không phải mọi tác phẩm có sự tham gia của AI đều không được bảo hộ quyền tác giả. Ảnh minh họa.

Theo đó, việc xác định mức độ đóng góp sáng tạo của con người trở thành yếu tố quan trọng để xác định quyền tác giả. Đây cũng là vấn đề đang được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu, thảo luận nhằm xây dựng khung pháp lý phù hợp với sự phát triển nhanh của công nghệ AI.

Trong trường hợp này, AI được xem như một công cụ hỗ trợ sáng tạo tương tự máy ảnh, phần mềm đồ họa hay nhạc cụ. Tác giả vẫn là người điều khiển quá trình sáng tạo và chịu trách nhiệm đối với sản phẩm cuối cùng.

Bên cạnh đó, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 cũng có một số điều chỉnh nhằm thích ứng với sự phát triển của công nghệ.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 7 của Luật, tổ chức và cá nhân được phép sử dụng văn bản và dữ liệu đã được công bố hợp pháp để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện hệ thống AI, với điều kiện không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.

Quy định này được đánh giá là bước tiến quan trọng, giúp tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng AI trong nghiên cứu và sáng tạo, đồng thời vẫn đảm bảo nguyên tắc bảo vệ quyền tác giả.

Tuy vậy, theo các chuyên gia pháp lý, việc sử dụng AI trong sáng tạo nghệ thuật vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Một trong những vấn đề đáng lo ngại là nguy cơ vi phạm bản quyền do các hệ thống AI được huấn luyện từ dữ liệu có sẵn trên internet, bao gồm cả những tác phẩm đã được bảo hộ.

“Cần có các nghị định hướng dẫn chi tiết để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tránh việc lạm dụng AI gây ra tranh chấp về bản quyền”, Luật sư Đặng Văn Cường nhận định.

Theo TS. LS. Đặng Văn Cường, trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh, pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện để làm rõ các vấn đề liên quan đến tác phẩm do AI tạo ra, đặc biệt là cơ chế xác định mức độ tham gia của con người trong quá trình sáng tạo.

Thực tế cho thấy, AI đang ngày càng thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ nghệ thuật, điện ảnh đến khoa học kỹ thuật. Vì vậy, việc xây dựng khung pháp lý phù hợp không chỉ nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mà còn góp phần thúc đẩy sáng tạo trong thời đại số.

Trong tương lai, khi AI ngày càng trở nên phổ biến trong quá trình sáng tác, câu hỏi về quyền tác giả đối với các sản phẩm AI tạo ra chắc chắn sẽ tiếp tục là chủ đề được giới lập pháp, chuyên gia công nghệ và cộng đồng sáng tạo đặc biệt quan tâm./.

Bích Việt