Công nghệ chiến lược - Trụ cột của năng lực tự chủ quốc gia trong kỷ nguyên số
Văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) là động lực then chốt của phát triển nhanh và bền vững. Trong đó, phát triển và làm chủ các công nghệ chiến lược được coi là một trụ cột quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ, năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đại hội XIV của Đảng đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và tính bền vững. Trong bối cảnh đó, KHCN và ĐMST không chỉ là động lực phát triển, mà còn là nền tảng của năng lực tự chủ quốc gia trong kỷ nguyên số.

Để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu
Tại Quyết định số 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược đã xác định rõ 11 nhóm công nghệ chiến lược. Đây được xem là bước đi mang tính bản lề, tạo lực đẩy mới cho hệ sinh thái KHCN và ĐMST quốc gia, đồng thời mở ra dư địa phát triển mới cho nền kinh tế tri thức Việt Nam.
Tư duy phát triển mới này đã đặt ra yêu cầu Việt Nam phải từng bước làm chủ các công nghệ lõi, phát triển các sản phẩm công nghệ có hàm lượng tri thức cao, có khả năng thay thế nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (KHKT&CN), Bộ KH&CN, Danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược được xây dựng trên cơ sở chỉ đạo của Trung ương, gắn với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, phù hợp với xu thế công nghệ toàn cầu.
Bộ KH&CN đóng vai trò cơ quan đầu mối xây dựng Danh mục công nghệ chiến lược thống nhất, nhằm tránh tình trạng mỗi bộ, ngành ban hành một danh mục riêng, gây chồng chéo, phân tán nguồn lực và làm giảm hiệu quả triển khai.
11 nhóm công nghệ chiến lược gồm: Trí tuệ nhân tạo (AI), bản sao số, thực tế ảo/thực tế tăng cường; điện toán đám mây, lượng tử, dữ liệu lớn; Blockchain; mạng di động thế hệ sau (5G/6G); robot và tự động hóa; chip bán dẫn; y - sinh học tiên tiến; năng lượng, vật liệu tiên tiến; đất hiếm, đại dương, lòng đất; an ninh mạng; hàng không, vũ trụ.
Danh mục này còn là cơ sở để thiết kế các chương trình KHCN và ĐMST quốc gia; xây dựng cơ chế tài trợ, đặt hàng nghiên cứu; ban hành các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp (DN); triển khai các nhiệm vụ trọng điểm trong từng lĩnh vực công nghệ mũi nhọn.
Trên nền tảng đó, Thủ tướng Chính phủ đã lựa chọn 6 sản phẩm công nghệ chiến lược để triển khai tiên phong. Đó là: Mô hình ngôn ngữ lớn và trợ lý ảo tiếng Việt; AI Camera xử lý tại biên; robot di động tự hành; hệ thống và thiết bị mạng di động 5G; hạ tầng mạng blockchain và các lớp ứng dụng truy xuất nguồn gốc, tài sản mã hóa; thiết bị bay không người lái.
Đây được coi là những “mũi nhọn đột phá”, vừa có tiềm năng ứng dụng rộng rãi, vừa có khả năng hình thành hệ sinh thái công nghiệp công nghệ cao trong nước.

Bộ KH&CN đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Chương trình KHCN và ĐMST quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay đối với 6 sản phẩm này.
Ngay khi Chương trình được phê duyệt, Bộ sẽ tổ chức triển khai theo tiến độ đề ra. Đối với các nhóm công nghệ chiến lược còn lại, Bộ đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng các chương trình khung, trên cơ sở đó giao cho từng bộ, ngành theo lĩnh vực chuyên môn xây dựng và tổ chức triển khai.
Thể chế hoá nhiệm vụ xây dựng công nghệ chiến lược
Một trong những điều kiện tiên quyết để triển khai thành công Danh mục công nghệ chiến lược là quá trình hoàn thiện thể chế. Theo Bộ KH&CN, việc Quốc hội thông qua 10 đạo luật liên quan đến KHCN và ĐMST và CĐS trong năm 2025 được coi là “bước ngoặt lịch sử”, tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ chưa từng có.
Trên nền tảng đó, Bộ KH&CN đã và đang triển khai Danh mục công nghệ chiến lược theo hướng: Đóng vai trò cơ quan đầu mối xây dựng Danh mục thống nhất trên phạm vi cả nước; áp dụng các chính sách, cơ chế ưu đãi theo Luật Công nghệ cao sửa đổi năm 2025; áp dụng quy định về chương trình, nhiệm vụ theo Nghị định 267/2025/NĐ-CP của Chính phủ; đồng bộ với các nghị định hướng dẫn Luật KHCN và ĐMST có liên quan.
Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm tính thống nhất trong điều hành, tránh chồng chéo chính sách, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi trên phạm vi toàn quốc. Một điểm mới quan trọng trong thể chế hoá các nhiệm vụ thực hiện Danh mục công nghệ chiến lược là việc gắn kết chặt chẽ với các công cụ chính sách như ngân sách nhà nước, cơ chế đặt hàng nghiên cứu và các ưu đãi dành cho DN.

Theo Vụ KHKT&CN, Nghị định số 267/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật KHCN và ĐMST về chương trình, nhiệm vụ KHCN và ĐMST và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và ĐMST đã có những quy định cụ thể về cơ chế tài trợ, đặt hàng, trong đó giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thông qua tài trợ, đặt hàng để thực hiện nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ hoặc chuỗi nhiệm vụ KHCN và ĐMST thuộc Chương trình.
Đối với khu vực doanh nghiệp (DN), Luật Công nghệ cao sửa đổi năm 2025 đã quy định các cơ chế ưu đãi cho hoạt động công nghệ chiến lược và DN công nghệ chiến lược, bao gồm các hoạt động nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa, giải mã, làm chủ, nội địa hóa và thương mại hóa công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược.
Về phía Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED), thông qua hoạt động tài trợ có chọn lọc, Quỹ góp phần tập trung nguồn lực cho một số công nghệ mũi nhọn, có tiềm năng tạo ra kết quả, sản phẩm và tác động rõ ràng, phù hợp với định hướng phát triển KHCN và ĐMST của quốc gia.
Theo ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc NAFOSTED, Quỹ là công cụ tài chính quan trọng trong việc hiện thực hóa Danh mục công nghệ chiến lược.
Trên cơ sở các định hướng, danh mục và cơ chế đã được cấp có thẩm quyền ban hành, Quỹ thực hiện chức năng tài trợ, hỗ trợ các nhiệm vụ KH&CN theo quy định, trong đó có nhiều nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng gắn trực tiếp với các ngành công nghệ chiến lược.
Thực tiễn triển khai cho thấy, theo kết quả tiếp nhận hồ sơ và ký hợp đồng tài trợ năm 2025, số lượng nhiệm vụ có nội dung nghiên cứu liên quan đến các ngành công nghệ chiến lược chiếm khoảng 72% tổng số nhiệm vụ được tài trợ (221 nhiệm vụ trên tổng số 309 nhiệm vụ). Con số này phản ánh rõ sự chuyển dịch trọng tâm của hoạt động nghiên cứu khoa học quốc gia theo hướng phục vụ trực tiếp các ưu tiên chiến lược của đất nước.
Không chỉ dừng lại ở hoạt động tài trợ, Quỹ còn phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc Bộ trong quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, góp phần hình thành các nhiệm vụ, chương trình cụ thể phục vụ phát triển các ngành công nghệ chiến lược, hướng tới thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh xã hội.
Danh mục 11 công nghệ chiến lược không chỉ là một chương trình KHCN, mà còn là cấu phần quan trọng của mô hình tăng trưởng mới.

Việc tập trung nguồn lực cho các công nghệ lõi, công nghệ nền tảng và các sản phẩm công nghệ chiến lược có ý nghĩa then chốt trong tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng dựa trên tri thức và ĐMST; nâng cao năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng; hình thành các ngành công nghiệp công nghệ cao có khả năng cạnh tranh quốc tế; tăng cường năng lực tự chủ và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Văn kiện Đại hội Đảng XIV đã xác lập tầm nhìn chiến lược cho giai đoạn phát triển mới, trong đó KHCN, ĐMST và CĐS giữ vai trò trung tâm của chiến lược phát triển đất nước.
Danh mục 11 công nghệ chiến lược và 6 sản phẩm công nghệ chiến lược tiên phong chính là sự cụ thể hóa sinh động tinh thần đó. Nếu được triển khai quyết liệt, đồng bộ và nhất quán, Danh mục công nghệ chiến lược không chỉ tạo ra những sản phẩm “Make in Viet Nam” có giá trị cao, mà còn góp phần định hình vị thế mới của Việt Nam trên bản đồ công nghệ toàn cầu, đúng như tầm nhìn mà Đại hội XIV đã xác lập./.