Một số nguyên tắc áp dụng trong đánh giá trình độ ứng dụng CÔNG NGHỆ THÔNG TIN và INTERNET của doanh nghiệp
Khoa học - Công nghệ - Ngày đăng : 21:39, 03/11/2015
ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ INTERNET
Đánh giá ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và Internet là trình tự thực hiện có hệ thống việc ghi nhận, xem xét, phân tích kết quả quá trình sử dụng các công cụ, giải pháp về CNTT và Internet cho đối tượng áp dụng nó. Nội dung đánh giá tùy thuộc vào mục đích của chủ thể thực hiện về qui mô, phạm vi, mức độ chuyên sâu. Kết quả đánh giá sẽ chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu của các thành phần hoặc tổng thể CNTT và Internet của đối tượng, lĩnh vực được đánh giá. Kết quả đánh giá còn phản ánh sức mạnh nội tại của đối tượng đánh giá và mặt bằng các đối tượng khác xung quanh. Đánh giá ứng dụng CNTT, Internet được tiếp cận từ nhiều hướng, đảm bảo tính khách quan, chủ quan và tăng mức độ toàn diện của kết quả đánh giá [1], [2].
Phương pháp đánh giá trình độ ứng dụng CNTT và Internet là quá trình thực hiện cụ thể hóa từ những bộ tiêu chí, chỉ tiêu thành phần có khả năng lượng hóa. Nó dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp, sự phát triển trong cả quá trình của một hay nhiều đơn vị [3], [4].
NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG KHI ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ ỨNG DỤNG CNTT VÀ INTERNET TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Trên cơ sở nghiên cứu một số phương pháp đánh giá ứng dụng CNTT và Internet đối với những lĩnh vực và đối tượng hoạt động trong xã hội [4], việc nghiên cứu phân tích các điểm mạnh yếu của mỗi phương pháp giúp xác định nguyên lý đánh giá và những yếu tố hình thành cơ sở cách thức tiếp cận đánh trình độ ứng dụng CNTT và Internet trong các doanh nghiệp. Nội dung phân tích với các phương pháp đánh giá được xem xét, bao gồm: Mục đích phương pháp, cấu trúc phương pháp, nguyên lý tính toán, hệ thống tiêu chí đánh giá, cách thức triển khai, bộ số liệu khai thác. Các phương pháp đánh giá được tham khảo đều phục vụ cho một hoặc một số mục tiêu của các nhóm tác giả nghiên cứu. Kết quả đánh giá đưa ra thể hiện thông qua những thang đo, làm cơ sở xác định tình hình, hiện trạng chủ quan của đối tượng được đánh giá và mức độ tác động khách quan từ môi trường xung quanh đối tượng. Từ đó cho thấy, khi xây dựng bất cứ phương pháp đánh giá nào, các tác giả đều áp dụng một khuôn mẫu chung. Đó là:
Thứ nhất: Nguyên tắc cấu trúc hệ thống đánh giá
- Các phương pháp đều có cấu trúc đánh giá với các hệ tiêu chí thành phần. Từ đó, kết quả đánh giá đưa về chuẩn chung thống nhất.
- Các hệ tiêu chí thành phần được xây dựng xuất phát từ việc xem xét những công việc, công đoạn trong hoạt động của đối tượng đánh giá có khả năng ứng dụng CNTT, Internet.
- Mỗi hệ tiêu chí thành phần chính của phương pháp đánh giá, cho biết quan điểm và hướng tiếp cận của các tác giả nghiên cứu, khi xác định khả năng, mức độ thâm nhập CNTT, Internet vào hoạt động, hành vi của đối tượng.
- Số liệu xác định và khai thác từ các thang đo qui chuẩn, được sử dụng cùng phương pháp tính toán.
- Phương pháp tính toán phục vụ cho đánh giá thường hướng đến sự đơn giản hóa, chủ yếu là thống kê toán kinh tế với những cấp độ khác nhau, giúp kết quả trở nên lượng hóa, tính định lượng của phương pháp đánh giá tăng lên.
- Các yếu tố xem xét về cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT, Internet nguồn lực nhân sự, nguồn lực tài chính, thể chế thực hiện là những điều kiện phổ biến khi đánh giá ứng dụng CNTT và Internet.
- Trong hệ tiêu chí đánh giá, các nhân tố, tiêu chí thành phần về nội dung, tổ chức, cơ chế hoạt động về ứng dụng được đề cập và phân tích chuyên sâu, khi đối tượng đánh giá là một tổ chức hoặc nhóm tổ chức cụ thể.
- Các tiêu chí phản ánh công năng khai thác, sử dụng của đối tượng trong việc ứng dụng CNTT, Internet được chú trọng.
- Số liệu đầu vào cho các phương pháp đánh giá có ảnh hưởng nhất định đến kết quả đánh giá.
Các đặc tính trình bày trên cho thấy rằng yêu cầu thỏa mãn mọi nhu cầu đánh giá là rất khó thực hiện đầy đủ. Tuy nhiên, ta cũng thấy rằng: Các tiêu chí đánh giá càng rõ ràng, thông tin phục vụ đánh giá càng chi tiết, kết quả số liệu đầu ra của phương pháp sẽ lượng hóa cao, mức độ sai số sẽ giảm và tính chân thực kết quả tăng lên. Vì vậy, để xây dựng phương pháp đánh giá trình độ ứng dụng CNTT và Internet trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, việc xây dựng phương pháp đánh giá trình độ ứng dụng CNTT và Internet đáp ứng các yêu cầu [5]:
- Xác định những tính chất đặc thù của hoạt động nghiệp vụ của doanh nghiệp đó.
- Kế thừa những hệ tiêu chí định lượng về: Cơ sở vật chất, nguồn lực của đơn vị trong ứng dụng CNTT và Internet đã công bố.
- Sử dụng công cụ toán học phục vụ cho việc lượng hóa kết quả đánh giá.
- Nếu lấy bộ máy quản trị doanh nghiệp nghiên cứu là trung tâm, đặc tính vận hành hoạt động của doanh nghiệp làm cơ sở đánh giá xuyên suốt, tiếp cận từ nhiều hướng, thì phương pháp đánh giá và kết quả mang tính khoa học và dễ thuyết phục.
Mục tiêu của phương pháp đánh giá phục vụ việc xếp hạng trình độ ứng dụng CNTT và Internet giữa các doanh nghiệp cùng nhóm ngành nghề, đồng thời xác định các điểm mạnh, yếu tại mỗi đơn vị, đưa ra các kết quả đánh giá qua thời gian đối với ứng dụng CNTT và Internet. Đây là công cụ phục vụ cho cán bộ quản lý, điều hành trong tổ chức, nhà quản lý ngành. Mặt khác, kết quả triển khai phương pháp đánh giá cho bộ số liệu định lượng theo thang đo thống nhất. Nó tạo ra cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ cho các thành viên trong doanh nghiệp và cộng đồng xã hội tham khảo, sử dụng.
Đối tượng đánh giá là doanh nghiệp được xem xét từ những nội dung được ứng dụng CNTT và Internet. Đó là công tác nghiệp vụ, cơ chế quản lý nghiệp vụ đào tạo, điều hành chuyên môn, công tác vận hành khai thác hệ thống ứng dụng CNTT và Internet… Nguyên tắc đánh giá trình độ ứng dụng CNTT và Internet đề xuất phải hướng đến việc lượng hóa kết quả thay vì các nhận xét phạm trù hay nhận định chung [3].
Từ đó, cấu trúc phương pháp đánh giá ứng dụng CNTT và Internet trong các doanh nghiệp sẽ thể hiện từ:
- Năng lực nội tại chủ quan của doanh nghiệp: Đó là năng lực, cơ chế vận hành ứng dụng CNTT và Internet vào hoạt động nghiệp vụ [6];
- Nhìn nhận khách quan bởi người sử dụng: Đó là phản ảnh qua lại của các đối tượng tham gia ứng dụng CNTT và Internet ;
- Ghi nhận thực tế kết quả ứng dụng tại đơn vị: Đó là điều kiện mà CNTT và Internet phục vụ cho nghiệp vụ và kết quả thực trạng, tiến bộ về ứng dụng CNTT và Internet của doanh nghiệp;
- Đặc thù riêng của ứng dụng CNTT và Internet vào hoạt động nghiệp vụ doanh nghiệp theo ngành nghề: Đó là khả năng, mức độ triển khai hoạt động trực tuyến chuyên ngành.
Trên cơ sở cấu trúc phương pháp đánh giá đã địnhhình, mỗi phân hệ tiêu chí đánh giá được hình thành từ của thực hiện một số hoặc toàn bộ công việc sau:
- Xác định nhóm tiêu chí đánh giá cùng đặc tính. Khi đó, việc phân tích các tác động qua lại và xử lý số liệu chi tiết sẽ trở nên thuận lợi [3], [7];
- Xác định tiêu chí, nhóm tiêu chí sát với bản chất và đặc tính hoạt động của đối tượng đánh giá có khả năng ứng dụng CNTT và Internet;
- Tùy theo độ phức tạp và qui mô mỗi phân hệ tiêu chí chính cấp, việc phân nhóm, phân cấp tiêu chí thành phần được thực hiện, để đảm bảo sự chính xác, tin cậy và khả thi của phân hệ tiêu chí đánh giá;
- Kiểm tra từng tiêu chí đánh giá đều xoay quanh đối tượng tham gia là thành viên và tổ chức. Tiêu chí sử dụng có tính mở cho phép điều chỉnh, bổ sung khi cần thiết nhưng không làm thay đổi bản chất tiêu chí.
- Lựa chọn từ kết quả của một số phương pháp đã tham khảo, để sử dụng tiêu chí thứ cấp phù hợp với yêu cầu phân hệ tiêu chí đánh giá và cấu trúc phương pháp đánh giá;
- Kiểm tra tính khả thi về số liệu thu thập của tiêu chí thành phần;
Thực hiện nguyên lý đánh giá cho điểm là nguyên lý chính áp dụng vào phân hệ tiêu chí đánh giá của phương pháp. Đây là yếu tố cơ bản nhằm hướng tới kết quả lượng hóa của phương pháp đánh giá.
Thứ hai: Nguyên tắc đặc tính ứng dụng CNTT và Internet trong doanh nghiệp
Kết quả ứng dụng CNTT và Internet trong các tổ chức là những tiện ích mà mỗi cá nhân và tập thể đơn vị được thừa hưởng, nhằm phục vụ cho hoạt
động của mình. Tổng hợp tiêu thức đánh giá ứng dụng CNTT và Internet cho doanh nghiệp gồm: Sự liên kết giữa cá nhân, tập thể và doanh nghiệp; Hạ tầng hệ thống điều hành của đơn vị; Yêu cầu đối với từng công việc được ứng dụng CNTT và Internet; Liên hệ giữa các ứng dụng CNTT, Internet trong nhóm tiêu thức đánh giá; Xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT và Internet vào nghiệp vụ; Đội ngũ cán bộ điều phối ứng dụng CNTT và Internet; Thời điểm ứng dụng CNTT và Internet của từng thành phần đánh giá; Suất chi phí phục vụ ứng dụng CNTT và Internet; Sản phẩm đầu ra của việc ứng dụng CNTT và Internet.
Thứ ba: Nguyên tắc tiếp cận đối tượng của phương pháp đánh giá
Phương pháp đánh giá trình độ ứng dụng CNTT và Internet trong các doanh nghiệp được xây dựng có những nguyên tắc tiếp cận:
- Nguyên tắc chỉ dẫn tiếp cận nhiều chiều: Cho biết các hướng tiếp cận khai thác thông tin từ tổ chức để xác định kết quả trình độ ứng dụng CNTT và Internet.
- Nguyên tắc đầy đủ: Phản ảnh tối đa các tác nhân của ứng dụng CNTT và Internet vào hoạt động nghiệp vụ của doanh nghiệp.
- Nguyên tắc kiểm soát: Các thành phần đánh giá thể hiện thước đo khả năng, mức độ, chất lượng, biến động ứng dụng CNTT và Internet của doanh nghiệp theo các giác độ khác nhau. Từ đó, chúng tạo thành nhóm tiêu chí có tính chất kiểm chứng lẫn nhau trong phương pháp đánh giá.
- Nguyên tắc kế thừa: Cấu trúc phương pháp đánh giá gồm các thành phần lượng hóa thông qua bộ tiêu chí định lượng; Lựa chọn phù hợp những tiêu chí đánh giá được đúc kết từ các phương án tham khảo.
- Nguyên tắc hoàn thiện, bổ sung: Xây dựng, bổ sung tiêu chí xuất phát từ bài học rút ra qua những hạn chế mà phương pháp tham khảo còn tồn tại.
Thứ tư: Nguyên tắc khai thác dữ liệu đảm
Hệ thống phải đảm bảo tính bảo mật và an toàn, người sử dụng có các quyền hạn tương ứng với các chức năng của mình.
Phân quyền cần được triển khai tới từng chức năng, đảm bảo khả năng mã hoá thông tin trong việc chuyển đổi thông tin giữa các cấp:
- Các cấp ngang hàng chỉ có thể khai thác được các thông tin chung của nhau mà không khai thác được các thông tin riêng (thông tin cấp 1).
- Các cấp chỉ có thể khai thác thông tin của các đối tượng trực thuộc quyền kiểm soát của mình mà không khai thác được thông tin riêng của các cấp cao hơn.
- Các cấp chỉ có thể khai thác thông tin của các đối tượng trực thuộc quyền kiểm soát của mình mà không khai thác được thông tin riêng của các đối tượng trực thuộc các cấp khác.
Bài viết tập trung trình bày các nguyên tắc đánh giá trình độ ứng dụng CNTT và Internet của các doanh nghiệp. Việc triển khai với nhiều phương án và tiêu chí cụ thể cần tiếp tục được thực hiện dựa trên những nguyên tắc này. Với những nguyên tắc áp dụng đã trình bày, việc đánh giá sẽ chặt chẽ, toàn diện và đảm bảo trình tự khoa học. Kết quả đánh giá có tính lượng hóa, logic và phù hợp với nhu cầu sử dụng của các nhà quản lý trong công tác chuyên môn nghiệp vụ của mình. Việc tổ chức triển khai dễ dàng, cụ thể và thống nhất trên toàn quá trình thực hiện công việc đánh giá.
Tài liệu tham khảo
[1]. PICK, J. B., & AZARI, R. (2008), Global digital divide: Influence of socioeconomic, governmental, and accessibility factors on information technology, Information Technology for Development, 14 (2).
[2]. UN ICT Task Force. (2005), Mesuring ICT: The Global Status
[3]. PGS.TS. TRẦN VĂN BÌNH và đồng sự (2008), Đánh giá trình độ công nghệ các địa phương, Đề tài nghiên cứu khoa học, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về quản lý – CRC, Hà Nội.
[4]. FONDEUR GIL. (2005), Core ICT business Indicator, Capacity - Building Workshop Information Society Measurements.
[5]. TS. LÊ NAM TRUNG (2011), Phương pháp đánh giá trình độ ứng dụng công nghệ thông tin và Internet trong các cơ sở đào tạo tại Việt Nam, Hà Nội.
[6]. LÊ NAM TRUNG (2007), Đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin và Internet cho hoạt động nghiệp vụ đối với đơn vị hành chính sự nghiệp, Đề tài khoa học, Bộ Thông tin và truyền thông, Hà Nội.
[7]. DEL AGUILA-OBRA & PADILLA-MELENDEZ (2006), Organizational Factors affecting Internet Technology Adoption, Internet Research.