Truyền thông

Giáo dục nghệ thuật trong kỷ nguyên số: Kết nối công nghệ với các giá trị nhân văn

TC-BL • 06/11/2026 20:56

Trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số đang tác động lớn tới mọi mặt của cuộc sống, trong đó có nghệ thuật. Theo đó, đổi mới giáo dục nghệ thuật không đơn thuần là đưa công nghệ vào giảng dạy, mà còn là kết nối tri thức hiện đại với các giá trị nhân văn, bản sắc văn hóa và năng lực sáng tạo của thế hệ tương lai.

Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật Việt Nam trong kỷ nguyên số” do Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (ĐHSPNTTW) tổ chức ngày 6/11/2026, các đại biểu đã tập trung trao đổi hai nội dung lớn: Nghệ thuật vẫn cần thiết khi công nghệ ngày càng có khả năng đảm nhiệm nhiều hoạt động sáng tạo; Giáo dục nghệ thuật cần làm gì để tiếp tục nuôi dưỡng cảm xúc, tư duy sáng tạo cùng những giá trị nhân văn cho thế hệ tương lai.

Khi công nghệ thay đổi cách sáng tạo, giáo dục nghệ thuật cũng cần đổi mới

Phát biểu tại hội thảo, PGS. TS. Đào Đăng Phượng, Hiệu trưởng Trường ĐHSPNTTW, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới giáo dục nghệ thuật trong bối cảnh các chủ trương lớn về phát triển khoa học, công nghệ (KHCN), giáo dục và văn hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với chất lượng phát triển con người.

NGUT. PGS. TS. Đào Đăng Phượng
PGS. TS. Đào Đăng Phượng phát biểu khai mạc Hội thảo.

Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) quốc gia, Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), cùng Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ giữa các lĩnh vực này. Theo đó, đổi mới giáo dục nghệ thuật cần được triển khai trên nền tảng KHCN và chuyển đổi số (CĐS), đồng thời bảo đảm nhiệm vụ gìn giữ, phát huy hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam.

Thực tế đào tạo cho thấy, công nghệ đã trực tiếp tham gia vào hoạt động sáng tác của sinh viên. AI có thể hỗ trợ tạo hình ảnh, phối khí, viết lời trong thời gian rất ngắn. Sinh viên cũng chủ động đưa các công cụ AI vào bài tập và đồ án tốt nghiệp. Cùng với đó, học liệu, bài tập, sản phẩm thực hành và đồ án ngày càng được lưu trữ dưới dạng số.

Sự thay đổi này đặt ra những câu hỏi mới đối với các cơ sở đào tạo: Đâu là phần sáng tạo thực chất của người học khi sản phẩm có sự tham gia của AI? Ai được xác định là tác giả? Làm thế nào để bảo đảm tính minh bạch, quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) và đạo đức nghề nghiệp trong sáng tác?

Theo PGS. TS. Đào Đăng Phượng, các cơ sở đào tạo cần rà soát, đổi mới quy chế, phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả học tập. Mục tiêu là xác định đúng vị trí của công nghệ trong quá trình sáng tạo, bảo đảm người học thực sự hình thành năng lực chuyên môn và tư duy độc lập.

PGS. TS. Đào Đăng Phượng nhấn mạnh: Giáo dục nghệ thuật không chỉ là đào tạo năng khiếu mà còn là quá trình bồi dưỡng khả năng cảm nhận, nhận diện và trân trọng cái đẹp, gìn giữ bản sắc dân tộc.

Nghệ thuật góp phần định hình chiều sâu nhân văn của phát triển công nghệ

Từ góc nhìn của người làm khoa học, GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học (ĐH) Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội, cho rằng giáo dục nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc cân bằng đời sống tinh thần trước những "áp lực" của kỷ nguyên số.

GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức
GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức chia sẻ về vai trò của giáo dục nghệ thuật trong kỷ nguyên số.

Khi con người ngày càng tiếp xúc với khối lượng lớn hình ảnh, âm thanh và thông tin được truyền tải với tốc độ nhanh, việc tập trung vào nghệ thuật nguyên bản giúp mỗi người rèn luyện khả năng quan sát, lắng nghe, suy ngẫm và cảm nhận những rung động tinh tế trong cuộc sống. Khả năng cảm nhận, liên tưởng và sáng tạo cũng góp phần mở rộng cách con người tiếp cận vấn đề, tìm kiếm giải pháp và tạo ra những giá trị mới.

Theo ông, công nghệ là công cụ hỗ trợ, nhưng nghệ thuật góp phần khơi dậy lòng nhân ái, tình yêu thương và khả năng phân biệt điều đúng, điều sai. Đầu tư cho giáo dục nghệ thuật chính là bồi đắp chiều sâu văn hóa và năng lực sáng tạo của Việt Nam trong tương lai.

Sự giao thoa giữa công nghệ và nghệ thuật đã được thể hiện qua nhiều ví dụ thực tế. Tại Hội nghị Robot Thế giới năm 2025 tại Bắc Kinh (Trung Quốc), ban nhạc robot hình người cho thấy khả năng ứng dụng tự động hóa và AI vào biểu diễn âm nhạc. Robot có thể phân tích bản nhạc, điều khiển chuyển động tay để trình diễn cùng con người.

Ở chiều ngược lại, công nghệ biểu diễn đương đại cũng góp phần đưa các giá trị văn hóa truyền thống đến gần hơn với công chúng quốc tế. Năm 2025, tiết mục của ca sĩ Đức Phúc tại Moscow (Nga) thu hút rất nhiều sự quan tâm với sự kết hợp giữa hình ảnh, ánh sáng sân khấu hiện đại và giai điệu mang bản sắc văn hóa dân tộc.

Mối quan hệ giữa kỹ thuật và nghệ thuật còn thể hiện trong lĩnh vực thiết kế công nghiệp. Người làm thiết kế hiện đại không chỉ cần cảm quan thẩm mỹ, khả năng tạo hình mà còn phải hiểu toán học, vật lý, đặc tính và sức bền vật liệu, đồng thời biết vận dụng các công cụ mô phỏng kỹ thuật. Điều này cho thấy sáng tạo nghệ thuật ngày càng cần sự kết hợp giữa tư duy thẩm mỹ, tri thức khoa học và năng lực làm chủ công nghệ.

Cùng chia sẻ quan điểm về mối quan hệ này, PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy viên chuyên trách của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, nhấn mạnh công nghệ và AI đang mở rộng phương tiện biểu đạt, hỗ trợ quá trình sáng tạo và kết nối nghệ thuật với công chúng.

PGS. TS. Đỗ Hoài Sơn
PGS. TS. Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh vai trò của công nghệ trong việc mở rộng phương tiện biểu đạt, hỗ trợ quá trình sáng tạo và kết nối nghệ thuật với công chúng.

Tuy nhiên, theo PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, công nghệ không thể thay thế sự rung cảm của trái tim. AI cũng khó có thể thay thế người thầy trong việc trao truyền tình yêu quê hương, tình yêu con người và chiều sâu văn hóa dân tộc. Vì vậy, điều cốt lõi không chỉ là đưa công nghệ vào lớp học nghệ thuật, mà còn phải đưa các giá trị nhân văn vào cách con người sử dụng công nghệ.

Giáo dục nghệ thuật cần giúp thế hệ trẻ làm chủ công cụ hiện đại nhưng không để công nghệ chi phối đời sống tinh thần; có năng lực chuyên môn nhưng vẫn biết rung động trước cái đẹp và trân trọng các giá trị văn hóa. Đây là nền tảng để KH&CN phát triển gắn với mục tiêu phục vụ con người.

Xây dựng hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật có sự liên kết thực chất

Một trong những vấn đề được các diễn giả cùng nhấn mạnh là yêu cầu xây dựng hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật với sự tham gia của nhiều chủ thể, thay vì để từng cơ sở đào tạo tự giải quyết những khó khăn riêng lẻ.

Theo PGS. TS. Đào Đăng Phượng, một trường có thể đầu tư phần mềm, xây dựng phòng thực hành nhưng khó có thể tự mình hình thành kho học liệu đủ lớn, cơ sở dữ liệu di sản tin cậy, quy tắc chung về ứng dụng AI hay giải quyết đầu ra cho sản phẩm sáng tạo của người học.

Do đó, hệ sinh thái cần kết nối nhà trường, giảng viên, sinh viên với cơ quan quản lý, nghệ sĩ, nghệ nhân, bảo tàng, nhà hát, doanh nghiệp thời trang, nội dung số, cộng đồng nắm giữ di sản và các đối tác quốc tế. Sự liên kết cần được triển khai thông qua hạ tầng số, chính sách bảo đảm chất lượng và cơ chế SHTT phù hợp.

Quan trọng hơn, kết nối phải tạo ra những hoạt động cụ thể: các trường chia sẻ học liệu số; tri thức nghệ nhân được đưa vào bài giảng; sinh viên có cơ hội tham gia hoạt động thực tế và đưa sản phẩm sáng tạo ra thị trường; kết quả nghiên cứu được sử dụng để cập nhật chương trình đào tạo.

Từ góc nhìn KHCN, GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức đề xuất vận dụng khung giáo dục nghệ thuật của UNESCO năm 2024, chú trọng học tập suốt đời, bảo tồn di sản địa phương và liên kết trường học với các thiết chế văn hóa. Ông cũng đề xuất mô hình hợp tác “4 nhà”: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp - Nhà khoa học, nghệ sĩ, nghệ nhân.

Đặc biệt, hệ sinh thái bền vững phải bảo đảm điều kiện sinh kế cho những người nắm giữ và thực hành di sản văn hóa, giúp họ tiếp tục gắn bó, truyền nghề và đóng góp cho cộng đồng. Cùng với đó, cần giải quyết thỏa đáng quyền SHTT để nhà khoa học, nghệ sĩ có động lực sáng tạo, tránh tình trạng các kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ bị đóng băng tại cơ quan chủ trì.

Biểu diễn
Sinh viên Trường ĐHSPNTTW biểu diễn tiết mục hát Quan họ tại Triển lãm nghệ thuật Quốc tế 2026 do Trường tổ chức ngày 5/11/2026.

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn cũng nhấn mạnh yêu cầu kết nối nhà trường với bảo tàng, nhà hát, không gian sáng tạo, nghệ sĩ, nghệ nhân và doanh nghiệp văn hóa, công nghệ. Theo ông, những làn điệu dân ca không nên chỉ hiện diện trên trang sách giáo khoa mà cần có cơ hội vang lên từ tiếng hát trực tiếp của nghệ nhân ngay trong lớp học. Do vậy, cần có cơ chế phối hợp cụ thể giữa ba ngành: Giáo dục, Văn hóa và KHCN.

Trong quá trình này, người thầy phải được đặt ở vị trí trung tâm. Một nền giáo dục nghệ thuật tốt sẽ không được hình thành nếu thiếu những người thầy đủ năng lực, tâm huyết và được xã hội trân trọng. Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, một giáo viên nghệ thuật có thể mở ra cho học trò những cơ hội khám phá thế giới cảm xúc và khả năng sáng tạo. Vì vậy, bên cạnh đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy số, cần có cơ chế thu hút, đãi ngộ thỏa đáng đối với giáo viên, nghệ sĩ, nghệ nhân tham gia giảng dạy.

Đổi mới mô hình đào tạo, hội nhập bằng bản sắc văn hóa Việt Nam

Để thích ứng với yêu cầu mới, các cơ sở giáo dục nghệ thuật không chỉ cần đầu tư công nghệ mà còn phải thay đổi mô hình phát triển và cách tiếp cận đào tạo.

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức cho rằng các trường đào tạo nghệ thuật cần hướng tới mô hình ĐH hiện đại dựa trên ba trụ cột: nghiên cứu, ĐMST và CĐS. Giảng viên nghệ thuật bên cạnh vai trò nghệ sĩ, nghệ nhân cần đồng thời có năng lực nghiên cứu khoa học, biết tổng kết thực tiễn, phát triển hệ thống lý luận và xây dựng chuẩn mực học thuật.

Các cơ sở đào tạo cũng cần tạo không gian để giảng viên thử nghiệm phương pháp mới, thúc đẩy ĐMST. Riêng với Trường ĐHSPNTTW, ông cho rằng giáo dục nghệ thuật hiện đại cần bổ sung công nghệ như một nền tảng quan trọng bên cạnh các nền tảng văn hóa, dân tộc và tôn giáo.

Dù phương thức đào tạo thay đổi, con người vẫn phải là trung tâm. Không phải học sinh nào học âm nhạc cũng trở thành nhạc sĩ, nhưng mỗi em đều cần cơ hội khám phá khả năng cảm thụ, biểu đạt cảm xúc và hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ. Vì vậy, hiệu quả của một tiết học âm nhạc hay mỹ thuật không thể chỉ được đánh giá qua điểm số, mà còn ở việc giúp học sinh tự tin, sáng tạo, biết chia sẻ và trân trọng cái đẹp.

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn cho rằng, cần thay đổi cách nhìn nhận và đầu tư cho giáo dục nghệ thuật, đặt lĩnh vực này vào đúng vị trí trong chiến lược phát triển con người toàn diện. Giá trị của giáo dục nghệ thuật không chỉ nằm ở việc đào tạo những người làm nghề, mà còn ở khả năng bồi dưỡng đời sống tinh thần, cảm xúc và nhân cách cho mỗi người học.

Theo PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, người học cần được tiếp cận các mô hình đào tạo tiên tiến và thành tựu công nghệ hiện đại của thế giới, đồng thời hiểu, yêu và biết sáng tạo từ chất liệu di sản Việt Nam. Mục tiêu là đào tạo thế hệ trẻ có khả năng làm chủ công nghệ nhưng vẫn tự hào kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ nghệ thuật của thời đại, góp phần đưa văn hóa trở thành sức mạnh mềm quốc gia.

“

Nếu mỗi ngôi trường có chỗ cho âm nhạc, cho hội họa, cho trí tưởng tượng và niềm vui sáng tạo; nếu mỗi người thầy được tiếp sức để truyền cảm hứng; nếu mỗi em nhỏ có cơ hội chạm vào cái đẹp, thì chúng ta đang góp phần xây dựng một Việt Nam không chỉ mạnh về kinh tế, công nghệ mà còn giàu có về tâm hồn, sâu sắc về văn hóa và nhân ái trong cách sống.

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức cũng lưu ý việc đưa bản sắc văn hóa Việt Nam ra thế giới cần được thực hiện thông qua ngôn ngữ nghệ thuật đương đại và các phương tiện biểu đạt hiện đại. Trong quá trình số hóa di sản, cần tôn trọng nguồn gốc, sự đồng thuận của cộng đồng, bảo đảm chia sẻ lợi ích và minh bạch về bản quyền, xuất xứ dữ liệu.

Đối với việc ứng dụng AI trong học tập và biểu diễn, các cơ sở đào tạo cần đổi mới phương pháp đánh giá, chú trọng cả quá trình rèn luyện, ý tưởng sáng tạo và khả năng giải thích của người học, thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm cuối cùng. Qua đó, giảng viên có thể xác định rõ hơn đóng góp thực chất của sinh viên, đồng thời nâng cao ý thức về đạo đức sáng tạo và trách nhiệm bản quyền. Việc xây dựng trung tâm ĐMST cũng là một hướng đi được đặt ra nhằm tạo điều kiện cho nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ trong giáo dục nghệ thuật.

Các đại biểu tham dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm.
Các đại biểu tham dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm.

Đổi mới giáo dục nghệ thuật trong kỷ nguyên số không phải là lựa chọn giữa truyền thống và hiện đại, giữa cảm xúc và công nghệ. Vấn đề là tìm được phương thức kết hợp để công nghệ mở rộng khả năng sáng tạo, khoa học cung cấp nền tảng tri thức, còn nghệ thuật nuôi dưỡng chiều sâu nhân văn và bản sắc văn hóa.

Một hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiệu quả không chỉ đào tạo những người sử dụng thành thạo công cụ hiện đại, mà còn bồi dưỡng những con người biết sáng tạo, biết cảm nhận và có trách nhiệm với cộng đồng. Đó là nền tảng để giáo dục nghệ thuật đóng góp thiết thực vào sự phát triển KH&CN và con người Việt Nam trong tương lai./.

TC-BL