Bộ KH&CN đồng hành cùng Vĩnh Long thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và UBND tỉnh Vĩnh Long vừa ký kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2026 - 2030 với 5 trọng tâm chiến lược. Sự kiện đánh dấu bước ngoặt quan trọng nhằm đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) trở thành động lực then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Ngày 01/11/2026, Đoàn công tác của Bộ KH&CN do Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với tỉnh Vĩnh Long về phát triển KHCN, ĐMST và CĐS phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH).
Tiếp và làm việc với Đoàn có đồng chí Nguyễn Minh Dũng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Long; đồng chí Trần Trí Quang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; đồng chí Nguyễn Quỳnh Thiện, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh, các trường đại học (ĐH) và doanh nghiệp (DN) trên địa bàn.
Trong khuôn khổ buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân và Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Trần Trí Quang đã đại diện hai đơn vị ký kết Chương trình phối hợp về phát triển KHCN, ĐMST và CĐS phục vụ phát triển KT-XH tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2026 - 2030.

Chương trình phối hợp tập trung vào 5 nội dung chính: (i) Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ phục vụ các sản phẩm chủ lực, lợi thế của tỉnh; (ii) Phát triển hệ sinh thái ĐMST; (iii) Phát triển hạ tầng KHCN và ĐMST của tỉnh; (iv) Phát triển hạ tầng số, hỗ trợ thúc đẩy CĐS; (v) Phát triển nguồn nhân lực.
Vĩnh Long chuyển dịch mô hình tăng trưởng dựa trên KHCN và ĐMST
Phát biểu tại cuộc làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Trần Trí Quang nêu rõ, sau khi hợp nhất Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh, địa phương có không gian phát triển rộng hơn, với thế mạnh về nông nghiệp, thủy sản, kinh tế biển, năng lượng tái tạo và chế biến. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng, tỉnh phải chuyển từ cách phát triển dựa nhiều vào tài nguyên và lao động sang dựa trên KHCN, năng suất và ĐMST.

Theo Chủ tịch Trần Trí Quang, không nên đặt nặng số lượng đề tài, dự án hay mô hình mà cần quan tâm giá trị thực tế sau ứng dụng. Thước đo phải là năng suất lao động tăng, giá trị nông sản cao hơn, DN lớn mạnh, quản trị nhà nước hiệu quả và đời sống người dân được cải thiện.
Báo cáo tại cuộc làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Quỳnh Thiện cho biết thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, tỉnh đã hoàn thành 165/165 nhiệm vụ theo các thông báo kết luận của Trung ương. Kế hoạch 100 ngày xử lý điểm nghẽn CĐS gồm 66 nhiệm vụ thuộc 10 nhóm, đến thời điểm báo cáo đã hoàn thành 34 nhiệm vụ; tỉnh đang rà soát, tập trung xử lý 14 điểm nghẽn trọng tâm.
Sau hợp nhất, Vĩnh Long kế thừa 160 nhiệm vụ KHCN, trong đó 96 nhiệm vụ đã nghiệm thu. Các hoạt động nghiên cứu tạo ra 15 giống mới, 274 mô hình, 425 quy trình và giải pháp công nghệ; 13 giải pháp, sáng chế được công nhận, 36 sản phẩm được thương mại hóa. Tỉnh có 12 DN chủ trì nhiệm vụ và hơn 30 DN, hợp tác xã (HTX) tham gia nghiên cứu, ứng dụng.
Vĩnh Long hiện có khoảng 122,87 nghìn ha dừa, đứng đầu cả nước về diện tích, cùng 832 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu. Lợi thế nguyên liệu đặt ra yêu cầu phát triển công nghệ bảo quản, chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc để gia tăng giá trị sản phẩm.
Trong CĐS, mạng truyền số liệu chuyên dùng đã kết nối 100% cơ quan nhà nước từ tỉnh đến xã; 100% cơ quan sử dụng hệ thống quản lý văn bản, hồ sơ công việc được xử lý và ký số, trừ văn bản mật. Tỷ lệ hài lòng được báo cáo đạt 99,2%; mạng 5G phủ khoảng 80%.
Tuy nhiên, theo Phó Chủ tịch Nguyễn Quỳnh Thiện, tỉnh thiếu DN KHCN quy mô lớn làm đầu tàu; DN và HTX phần lớn hạn chế về vốn, nhân lực. Hạ tầng nghiên cứu, kiểm nghiệm, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, hoạt động thương mại hóa công nghệ chưa lan tỏa rộng.
KHCN, ĐMST gắn với thực tiễn, xuất phát từ nhu cầu của DN
Tại buổi làm việc, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận về những khó khăn, vướng mắc, định hướng và những nhiệm vụ hợp tác cụ thể, nhằm đưa KHCN, ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển KT-XH của tỉnh trong giai đoạn mới.

Từ thực tiễn sản xuất, đại diện Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới cho biết đã từng bước đưa kết quả nghiên cứu vào dây chuyền công nghiệp. DN tham gia đề tài chiết tách dầu dừa tinh khiết không gia nhiệt từ năm 2013, sau đó chủ trì dự án hoàn thiện công nghệ chế biến, đóng gói nước dừa bằng hệ thống UHT và bao bì Tetra Pak.
Dự án đóng gói nước dừa có tổng kinh phí hơn 109 tỷ đồng, trong đó hơn 19 tỷ đồng từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia. Năm 2025, Lương Quới đạt doanh thu trên 4.000 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 133 triệu USD, giải quyết việc làm trực tiếp cho hơn 2.000 lao động; sản phẩm hiện có mặt tại hơn 70 thị trường. Công ty đề xuất tiếp tục được hỗ trợ trong nghiên cứu sử dụng vỏ dừa làm nhiên liệu sinh khối, phát triển các ứng dụng giá trị cao từ dầu dừa tinh khiết và nghiên cứu vật liệu cellulose sinh học từ nước dừa.
Đại diện Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phước Thành IV cũng chia sẻ kinh nghiệm với công nghệ chế biến gạo 72 giờ. Công nghệ này đã đạt Giải Nhất Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Trần Đại Nghĩa lần thứ VI và được ghi danh trong Sách vàng Sáng tạo Việt Nam năm 2018. Giải pháp cải tiến quy trình ủ nguội giúp hạn chế gạo gãy, nâng chất lượng thành phẩm và giảm tổn thất sau thu hoạch.
Hiện tại, Phước Thành IV đang chuẩn bị ra mắt công nghệ sấy lúa hơi nước tuần hoàn. Bên cạnh đó, DN mong muốn được hỗ trợ nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ bảo quản và chế biến cam sành, khoai lang nhằm đa dạng hóa đầu ra cho nông sản địa phương.
Theo DN, lựa chọn công nghệ phải đồng thời xem xét chất lượng, chi phí, năng lượng sử dụng và nhu cầu thị trường, tránh tình trạng đầu tư thiết bị nhưng sản phẩm khó bán.
Lắng nghe các trao đổi tại buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân đánh giá cao những kết quả tỉnh Vĩnh Long đã đạt được trong thời gian qua, nhất là công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai các nhiệm vụ về KHCN, CĐS, dữ liệu và cải cách thủ tục hành chính.
Bộ trưởng Vũ Hải Quân nhấn mạnh, KHCN, ĐMST phải gắn với thực tiễn, xuất phát từ nhu cầu của DN.

Theo Bộ trưởng, DN có nhiều mối quan tâm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong khi đầu tư cho KHCN thường cần thời gian dài mới có thể thu hồi vốn và phát huy hiệu quả. Do đó, các cơ quan Trung ương và địa phương cần đồng hành, hỗ trợ, tạo điều kiện để DN tham gia ứng dụng, đổi mới công nghệ. Trong đó, DN là trung tâm, viện nghiên cứu, trường ĐH là lực lượng đồng hành, hỗ trợ; Bộ và địa phương tạo hành lang pháp lý, cơ chế và điều kiện cần thiết để thúc đẩy phát triển.
Đối với Chương trình phối hợp và các kiến nghị của tỉnh, Bộ trưởng giao Văn phòng Bộ chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng liên quan rà soát, trả lời đầy đủ. Bộ trưởng cũng đề nghị hai bên tăng cường các hoạt động trao đổi, làm việc thường xuyên; nghiên cứu thành lập tổ công tác chung để theo dõi, đôn đốc và định kỳ hằng năm đánh giá kết quả thực hiện Chương trình phối hợp.
Đặc biệt, Bộ trưởng lưu ý tỉnh nên lựa chọn một số nhiệm vụ cụ thể, có tính khả thi để ưu tiên triển khai trước, tạo ra những kết quả thiết thực, củng cố niềm tin của DN đối với hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KHCN; từ đó tạo động lực và sức lan tỏa để tiếp tục triển khai những nhiệm vụ lớn hơn.
Bộ trưởng Vũ Hải Quân gợi mở một số hướng nghiên cứu, ứng dụng như xử lý, tận dụng phụ phẩm từ vỏ dừa, vỏ sầu riêng nhằm giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả cho DN; nghiên cứu bài toán về giống, chế biến và nâng cao giá trị khoai lang Bình Tân, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng khoai lang./.