Đổi mới sáng tạo

Việt Nam - EU nhận định thách thức đổi mới sáng tạo để phát triển kinh tế số

Hoàng Linh • 29/10/2026 14:29

Diễn đàn Đổi mới sáng tạo số ASEAN-EU 2026 trong khuôn khổ Tuần lễ số quốc tế (VIDW) 2026 chia sẻ kinh nghiệm, kết nối nguồn lực và tìm kiếm các mô hình hợp tác thiết thực, đưa công nghệ vào phục vụ phát triển kinh tế số - xã hội số.

Với chủ đề “Từ chính sách đến thực tiễn: Kiến tạo hệ sinh thái thuận lợi cho nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo số tại ASEAN”, Diễn đàn Đổi mới sáng tạo số ASEAN-EU 2026 do Bộ Khoa học và Công nghệ và Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) phối hợp tổ chức chiều ngày 28/10/2026, tập trung trao đổi về chính sách, nguồn lực và các giải pháp thúc đẩy nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo (ĐMST) số.

Cac dai bieu
Các đại biểu tham dự Diễn đàn.

Hoàn thiện thể chế, lấy doanh nghiệp làm trung tâm đổi mới sáng tạo

Phát biểu tại Diễn đàn, ông Nguyễn Mai Dương, Cục trưởng Cục ĐMST - Bộ Khoa học và Công nghệ, nhận định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) đang tạo ra những chuyển biến sâu sắc đối với nền kinh tế toàn cầu. Đặc biệt, sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu và các công nghệ số mới đang mở ra nhiều cơ hội phát triển, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (SXKD) và quản trị.

Ong Mai Duong
Ông Nguyễn Mai Dương: Luật KHCN và ĐMST năm 2025 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy ĐMST như một trụ cột phát triển, với các cơ chế, chính sách được triển khai từ Trung ương đến địa phương.

Trong bối cảnh đó, ĐMST số không chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động SXKD, mà quan trọng hơn là năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ và chuyển hóa công nghệ thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị mới cho nền kinh tế.

Theo ông Nguyễn Mai Dương, doanh nghiệp (DN) giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái ĐMST; Nhà nước tập trung kiến tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy kết nối và huy động nguồn lực để đưa kết quả nghiên cứu, công nghệ vào thực tiễn.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa định hướng chính sách và kết quả ĐMST thực chất vẫn cần được thu hẹp. Những thách thức nổi bật gồm khả năng tiếp cận nguồn vốn cho nghiên cứu và phát triển (R&D), hạ tầng dữ liệu và năng lực tính toán phục vụ AI, nguồn nhân lực chất lượng cao, cũng như sự kết nối giữa DN, viện nghiên cứu, trường đại học (ĐH) và các tổ chức hỗ trợ ĐMST.

Ông Nguyễn Mai Dương nhận định: Đây không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà còn là thách thức chung của nhiều quốc gia ASEAN trong quá trình phát triển kinh tế số. Vì vậy, hợp tác ASEAN-EU được kỳ vọng tạo thêm cơ hội chia sẻ kinh nghiệm, kết nối nguồn lực và cùng tìm kiếm giải pháp phù hợp với điều kiện phát triển của từng quốc gia.

Theo Cục trưởng Cục ĐMST, từ cuối năm 2024, Việt Nam đã đẩy mạnh hoàn thiện thể chế với Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển KHCN, ĐMST quốc gia. Cùng với đó, Luật KHCN và ĐMST năm 2025 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy ĐMST như một trụ cột phát triển, với các cơ chế, chính sách được triển khai từ Trung ương đến địa phương.

Các chính sách tập trung xây dựng hệ sinh thái ĐMST, phát triển trung tâm ĐMST và mô hình khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời tăng cường hỗ trợ DN ứng dụng, chuyển giao công nghệ, khai thác tài sản trí tuệ và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh đó, Việt Nam triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách liên quan thông qua Luật Công nghệ cao, các quy định về chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ (SHTT), cùng những chính sách về ngân sách nhà nước, đầu tư công, thuế, đất đai và hỗ trợ DN nhỏ và vừa. Những cơ chế này hướng tới tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tăng cường kết nối giữa khu vực nghiên cứu với thị trường.

Trong hệ sinh thái đó, viện nghiên cứu và trường ĐH là những chủ thể cung cấp tri thức, công nghệ và đào tạo nhân lực chất lượng cao; DN đảm nhiệm vai trò đưa công nghệ vào SXKD và phát triển thị trường.

Ông Nguyễn Mai Dương nhấn mạnh, sau giai đoạn tập trung xây dựng khuôn khổ chính sách, yêu cầu quan trọng hiện nay là tổ chức thực thi hiệu quả, bảo đảm các cơ chế thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra giá trị cho DN, người dân và nền kinh tế.

Đối với ĐMST số, Luật CĐS năm 2025 và Luật AI năm 2025 được đề cập như những cấu phần quan trọng trong nền tảng pháp lý. CĐS tạo điều kiện phát triển hạ tầng và dữ liệu, trong khi AI mở ra khả năng nâng cao năng suất, hỗ trợ DN giải quyết các bài toán phức tạp và tối ưu nguồn lực.

Cũng theo Cục trưởng Cục ĐMST, Việt Nam hiện có hơn 1 triệu DN đang hoạt động trong năm 2025 và 265 cơ sở giáo dục DN. Đến tháng 9/2026, cả nước có 67 tổ chức hỗ trợ ĐMST. Nhiều DN trong nước và DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thành lập trung tâm R&D, trung tâm công nghệ thông tin hoặc trung tâm ĐMST, góp phần thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Dù vậy, hệ sinh thái ĐMST vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để phát huy tốt hơn năng lực của DN, trường ĐH và các tổ chức nghiên cứu.

Về kết quả ĐMST, Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII) năm 2026 do Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) công bố ngày 29/9/2026 ghi nhận Việt Nam đứng thứ 43 trong số 139 nền kinh tế, tăng một bậc so với năm trước và đứng thứ ba trong ASEAN, sau Singapore và Malaysia. Việt Nam xếp thứ 54 về đầu vào ĐMST và thứ 35 về đầu ra ĐMST.

Kết quả này cho thấy khả năng chuyển hóa nguồn lực thành sản phẩm, kết quả ĐMST là một lợi thế được ghi nhận của Việt Nam. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 lọt vào nhóm 40 quốc gia đứng đầu thế giới về GII, Cục trưởng Nguyễn Mai Dương cho biết Việt Nam cần tiếp tục nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ, thu hút đầu tư và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Bên cạnh GII, Chỉ số ĐMST cấp địa phương (PII) cũng được triển khai nhằm đánh giá năng lực phát triển dựa trên KHCN và ĐMST tại từng địa phương. Kết quả đánh giá giúp nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và tiềm năng của mỗi địa phương, từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.

EU mở rộng cơ hội hợp tác nghiên cứu và phát triển công nghệ

Chia sẻ tại Diễn đàn, bà Kristina Buende, Trưởng ban Đối tác, Phái đoàn EU tại Việt Nam, cho biết hợp tác số giữa EU và ASEAN đang ngày càng sâu sắc. Diễn đàn tạo cơ hội để các bên tìm hiểu những hướng hợp tác sâu rộng hơn về kết nối an toàn, tin cậy, thương mại số, tiêu chuẩn số và nhiều lĩnh vực liên quan.

Ba Kristina
Bà Kristina Buende: Hợp tác số giữa EU và ASEAN đang ngày càng sâu sắc.

“Những hoạt động này góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ, thúc đẩy hợp tác, thương mại và đầu tư giữa các bên”, bà Kristina Buende nhấn mạnh.

EU khẳng định sẵn sàng tăng cường hợp tác với Việt Nam và ASEAN về chính sách, quy định trong lĩnh vực ĐMST và nghiên cứu, đồng thời thúc đẩy các giải pháp CĐS thông qua chương trình Horizon Europe và các chương trình do những quốc gia thành viên EU triển khai.

Cơ hội hợp tác được đánh giá có ý nghĩa trong bối cảnh ASEAN chuẩn bị ký kết Hiệp định khung về Kinh tế số ASEAN (DEFA). Hiệp định hướng tới thúc đẩy hội nhập kinh tế số khu vực, với các lĩnh vực như luồng dữ liệu xuyên biên giới, thương mại không giấy tờ, thanh toán điện tử, an ninh mạng, bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến và quản trị AI.

Chia sẻ thêm về chương trình Horizon Europe, ông Gonzalo Serrano, Phó ban Hợp tác Quốc tế, Phái đoàn EU tại Việt Nam cho biết đây là chương trình trọng điểm của EU về nghiên cứu và ĐMST. Chương trình không chỉ dành cho các quốc gia thành viên EU mà còn mở ra cơ hội tham gia cho các quốc gia đối tác, trong đó có các nước thu nhập thấp và trung bình, theo những điều kiện cụ thể của chương trình.

Ong Gonzalo
Ông Gonzalo Serrano: Horizon Europe là chương trình trọng điểm của EU về nghiên cứu và ĐMST.

Ông Gonzalo Serrano cho rằng Horizon Europe không chỉ thúc đẩy hợp tác học thuật truyền thống mà còn tạo cơ hội kết nối các trường ĐH, cơ quan chính phủ, DN công nghiệp, DN nhỏ và vừa và các công ty khởi nghiệp. Thông qua các chương trình làm việc và đợt kêu gọi đề xuất được triển khai thường xuyên, các bên có thể tìm kiếm đối tác, tiếp cận nguồn lực và phát triển các dự án nghiên cứu, ĐMST có tính ứng dụng.

Toa dam
Các đại biểu trao đổi những giải pháp thúc đẩy ĐMST đóng góp phát triển kinh tế số - xã hội số tại Diễn đàn.

Người dân Quảng Ninh được thụ hưởng những kết quả của ĐMST

Chia sẻ với diễn đàn về triển khai ĐMST tại địa phương, ông Trần Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm ĐMST (VDCD) TP. Quảng Ninh cho biết kinh nghiệm phát triển hệ sinh thái công nghệ gắn với nhu cầu thực tiễn.

Ong Hung
Ông Trần Mạnh Hùng: Người dân và địa phương là những đối tượng thụ hưởng kết quả của ĐMST.

Theo ông Trần Mạnh Hùng, hoạt động của Trung tâm bám sát các định hướng lớn của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về KHCN, ĐMST và CĐS và phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW cùng các cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển trung tâm ĐMST.

Trung tâm xác định mô hình vận hành là mối liên kết giữa ba chủ thể là Nhà nước, DN và người dân. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo; DN đầu tư nguồn lực và trực tiếp vận hành; người dân và địa phương là những đối tượng thụ hưởng kết quả. Để hiện thực hóa định hướng này, Trung tâm lựa chọn hướng phát triển năng lực công nghệ trên các tầng của hệ sinh thái, từ thiết bị, nền tảng phần mềm đến hạ tầng dữ liệu.

Ở tầng thiết bị, Trung tâm phát triển máy bay không người lái (UAV) và thiết bị định vị RTK. Ở tầng nền tảng, Trung tâm xây dựng các phần mềm phục vụ bản đồ số, dữ liệu đất đai, bản sao số, môi trường dữ liệu dùng chung, truyền dữ liệu dung lượng lớn và quản trị vận hành. Về hạ tầng, Trung tâm phát triển hệ thống trung tâm dữ liệu tại Quảng Ninh, kết nối với mạng lưới tại Hà Nội và các địa phương khác.

Theo ông Trần Mạnh Hùng, việc chủ động phát triển các tầng công nghệ giúp Trung tâm tăng khả năng kiểm soát chất lượng dữ liệu, tối ưu chi phí và rút ngắn thời gian triển khai. Trên nền tảng đó, ba trụ cột được xác định gồm hạ tầng số, AI dựa trên dữ liệu tin cậy và nguồn nhân lực số.

Đặc biệt, Trung tâm chú trọng đào tạo nhân lực gắn với các bài toán thực tế. Kỹ sư và sinh viên được tham gia trực tiếp vào hoạt động tại các phòng thí nghiệm, giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn địa phương. Các chương trình đào tạo tập trung vào kỹ năng điều khiển UAV, hệ thống thông tin địa lý (GIS), xử lý dữ liệu và ứng dụng AI, đồng thời tăng cường liên kết với các cơ sở giáo dục.

Từ kinh nghiệm triển khai, ông Trần Mạnh Hùng đề xuất ba hướng hợp tác với các đối tác quốc tế: cùng xây dựng phòng thí nghiệm và dự án thí điểm R&D tại Quảng Ninh; chia sẻ kinh nghiệm quản trị dữ liệu và phát triển AI có trách nhiệm; trao đổi chuyên gia và hợp tác đào tạo nhân lực số.

Theo ông Trần Mạnh Hùng, TP. Quảng Ninh có thể trở thành địa điểm thử nghiệm cho những mô hình hợp tác này, với Trung tâm ĐMST là đầu mối kết nối, cụ thể hóa các sáng kiến.

Những đề xuất trên cho thấy hợp tác quốc tế không chỉ dừng ở trao đổi chính sách hay chia sẻ kinh nghiệm, mà còn có thể được chuyển hóa thành các dự án nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ và chương trình đào tạo gắn với nhu cầu phát triển cụ thể./.

Hoàng Linh