Truyền thông

Hoàn thiện thể chế về an ninh dữ liệu, tạo động lực phát triển kinh tế số

AD • 28/10/2026 17:43

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực chiến lược của nền kinh tế số, việc hoàn thiện thể chế về an ninh dữ liệu đặt ra yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm hài hòa giữa quản lý, bảo vệ và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này.

Thảo luận tại tổ về dự án Luật An ninh dữ liệu trong khuôn khổ chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI chiều ngày 26/10, các đại biểu Quốc hội nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ an ninh, chủ quyền dữ liệu quốc gia, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc về thể chế, khơi thông nguồn lực dữ liệu, tạo động lực phát triển kinh tế số.

Quản lý an ninh dữ liệu theo mức độ rủi ro, tránh gia tăng gánh nặng tuân thủ

Tại phiên thảo luận của Tổ 1, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hà Nội, các đại biểu tập trung góp ý về kỹ thuật lập pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và những quy định liên quan đến trách nhiệm của các chủ thể trong quản lý, bảo đảm an ninh dữ liệu.

Trong đó, việc phân loại dữ liệu theo mức độ rủi ro, xác định nghĩa vụ tuân thủ phù hợp và hạn chế phát sinh thủ tục không cần thiết được đặc biệt quan tâm, nhằm bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp.

Góp ý về nghĩa vụ của chủ quản hệ thống và chủ quản dữ liệu, đại biểu Lê Nhật Thành cho rằng, một trong những vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp và cử tri quan tâm nhất là liệu dự thảo Luật An ninh dữ liệu có làm phát sinh thêm gánh nặng tuân thủ hay không.

Qua nghiên cứu hồ sơ, đại biểu đánh giá dự thảo luật đã thiết kế các nghĩa vụ tương xứng với 5 cấp độ rủi ro. Theo đó, phần lớn tổ chức, doanh nghiệp không phải thực hiện thêm thủ tục mới. Chỉ một số ít cơ quan, tổ chức xử lý dữ liệu có mức độ rủi ro cao, thuộc cấp độ 4 và 5, chủ yếu là các cơ sở dữ liệu chuyên ngành quan trọng của các ban, bộ, ngành, mới phải tuân thủ những yêu cầu nghiêm ngặt hơn.

202610261631184039_1793006992169_1771895861636218619_1771895861636218619_d917b460d4b08a1d1027baa1cd58ab09.jpg
Đại biểu Lê Nhật Thành đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của từng nhóm chủ thể theo hướng cụ thể, thống nhất, đồng bộ, dễ hiểu và dễ áp dụng. (Ảnh: Văn Tuyến).

Theo đại biểu, cách tiếp cận này là phù hợp nhằm bảo đảm an ninh, quốc phòng và chủ quyền dữ liệu quốc gia, đồng thời thể hiện rõ tinh thần “quản lý theo rủi ro, không quản lý cào bằng” mà dự thảo luật hướng tới.

Để nâng cao hiệu lực thực thi, đại biểu Lê Nhật Thành đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của từng nhóm chủ thể theo hướng cụ thể, thống nhất, đồng bộ, dễ hiểu và dễ áp dụng. Các quy định cần kết hợp giữa yêu cầu bắt buộc với khuyến khích tự nguyện tuân thủ, đồng thời bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ tại Việt Nam.

Việc xác định trách nhiệm theo phương châm “rõ việc, rõ thời hạn, rõ đầu mối” sẽ góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng né tránh trách nhiệm, nhất là đối với các nền tảng xuyên biên giới.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định mang tính nguyên tắc nhằm bảo đảm thống nhất áp dụng pháp luật với Luật An ninh mạng, Luật Dữ liệu và các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, tránh tạo quy trình song hành không cần thiết.

Góp ý nhằm hoàn thiện tiêu chí phân loại cấp độ rủi ro và bảo vệ quyền tự chủ của doanh nghiệp, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà chỉ ra hai điểm nghẽn lớn cần tháo gỡ.

Thứ nhất là nguy cơ xung đột thể chế và làm suy giảm giá trị pháp lý của Danh mục dữ liệu cốt lõi. Luật Dữ liệu quy định “dữ liệu cốt lõi” là dữ liệu quan trọng, tác động trực tiếp đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội, sức khỏe và an toàn cộng đồng, thuộc Danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Tuy nhiên, dự thảo Luật An ninh dữ liệu lại phân loại dữ liệu cốt lõi vào cả ba cấp độ rủi ro 3, 4 và 5. Điều này có thể dẫn đến tình trạng cùng một tập dữ liệu đã được Thủ tướng Chính phủ xác định là “dữ liệu cốt lõi”, nhưng sang dự thảo luật này lại được xếp ở cấp độ 3, gây lúng túng trong việc xác định tiêu chuẩn bảo vệ.

Thứ hai là việc thiếu cơ chế bảo đảm về trình tự, thủ tục khi cơ quan chuyên trách đơn phương áp đặt cấp độ rủi ro. Theo đại biểu, việc nâng cấp độ rủi ro, đặc biệt từ cấp độ 3 lên cấp độ 4 hoặc 5, sẽ kéo theo hàng loạt nghĩa vụ như thẩm định thiết kế hệ thống trước khi vận hành, kiểm thử xâm nhập định kỳ và xin chấp thuận trước khi chuyển dữ liệu xuyên biên giới.

Nếu việc xác định cấp độ không chính xác, doanh nghiệp có thể phải gánh chịu chi phí tuân thủ rất lớn, đồng thời đối mặt nguy cơ đình trệ hoạt động lưu chuyển dữ liệu phục vụ kinh doanh mà không có cơ chế bù đắp kịp thời.

Từ những phân tích trên, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà đề nghị quy định rõ tiêu chí phân loại cấp độ rủi ro và cơ chế bảo đảm về thủ tục khi áp đặt cấp độ rủi ro. Đồng thời, dữ liệu thuộc Danh mục dữ liệu cốt lõi do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quy định của Luật Dữ liệu phải được bảo đảm an ninh tương xứng từ cấp độ 4 trở lên.

Bên cạnh yêu cầu hoàn thiện các quy định về quản lý và bảo vệ dữ liệu, việc tạo cơ chế thuận lợi để khai thác, phát huy giá trị kinh tế của dữ liệu cũng là vấn đề được các đại biểu quan tâm.

Khơi thông nguồn lực dữ liệu, thúc đẩy phát triển kinh tế số

Tiếp cận dữ liệu dưới góc độ nguồn lực kinh tế, đại biểu Hồ Sỹ Hùng nhấn mạnh cần có cách tiếp cận hài hòa giữa bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu với khai thác, sử dụng dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế.

202610261631184196_1793006992173_1771895861636218619_1771895861636218619_2bb79d2b8ed76a4f17a965c631db3bdf.jpg
Đại biểu Hồ Sỹ Hùng: Cần có cách tiếp cận hài hòa giữa bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu với khai thác, sử dụng dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế. (Ảnh: Văn Tuyến).

Theo đại biểu, trong tiến trình chuyển đổi số, dữ liệu không chỉ là đối tượng cần quản lý, bảo vệ mà còn là nguồn lực quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ.

Kinh tế dữ liệu không đơn thuần dừng lại ở hoạt động mua bán, mà còn bao gồm hoạt động kết nối, khai thác, phân tích dữ liệu nhằm tạo ra những giá trị mới. Vì vậy, đại biểu đề nghị dự thảo luật bổ sung quy định về phân loại, phân tầng dữ liệu và định hướng khai thác phù hợp với từng loại dữ liệu, qua đó tạo cơ sở thúc đẩy phát triển các mô hình kinh doanh và dịch vụ công nghệ mới.

Bên cạnh đó, đại biểu Hồ Sỹ Hùng lưu ý vai trò quan trọng của liên kết định danh điện tử đối với hoạt động của nền kinh tế số.

Nhằm hạn chế nguy cơ gián đoạn giao dịch khi xảy ra sự cố bất khả kháng hoặc trục trặc kỹ thuật, đại biểu kiến nghị dự thảo luật thiết lập cơ chế xử lý linh hoạt, cho phép áp dụng phương thức thay thế phù hợp. Đồng thời, giao Chính phủ quy định cụ thể về điều kiện thực hiện và thẩm quyền quyết định, bảo đảm vừa an toàn, vừa duy trì hoạt động thông suốt của kinh tế số.

Cùng với yêu cầu khai thác hiệu quả nguồn lực dữ liệu, việc nâng cao năng lực quản trị và phòng ngừa các nguy cơ mất an ninh dữ liệu có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số.

Tăng cường quản trị tài nguyên dữ liệu, bảo đảm an ninh trong kỷ nguyên số

Cùng với yêu cầu khai thác hiệu quả nguồn lực dữ liệu, việc nâng cao năng lực quản trị và phòng ngừa các nguy cơ mất an ninh dữ liệu có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số.

Nhấn mạnh sự thay đổi về vai trò của dữ liệu trong thời đại số, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc chỉ rõ, trước đây, khi dữ liệu chưa phát triển mạnh, ai nắm giữ nhiều thông tin sẽ có lợi thế trong việc làm chủ tình hình; nhưng hiện nay, chủ thể nắm giữ nhiều dữ liệu sẽ có khả năng chủ động hơn.

Dữ liệu không chỉ thuộc về tập thể hay Nhà nước mà mỗi cá nhân cũng đang sở hữu một kho dữ liệu ngày càng lớn, bao gồm cả thông tin riêng tư và những dữ liệu gắn với trình độ học vấn, nghề nghiệp, hoạt động kinh tế của từng người. Trong bối cảnh đó, việc xác thực và định danh dữ liệu được xác định là yếu tố then chốt nhằm hạn chế tội phạm mạng.

Từ thực tiễn quản lý SIM điện thoại để giảm thiểu SIM rác, tin nhắn rác đến phòng ngừa các thủ đoạn lừa đảo tinh vi bằng giọng nói, hình ảnh giả mạo, việc xây dựng hành lang pháp lý về an ninh dữ liệu có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Thậm chí, chúng ta có thể tính toán tỷ trọng đóng góp của kinh tế dữ liệu vào GDP. Do đó, các điều luật cần có ngôn từ dễ hiểu, rõ ràng; quy trình quản lý, bảo mật và giao dịch dữ liệu phải thuận lợi, minh bạch tạo điều kiện khai thác hiệu quả nguồn lực dữ liệu, thúc đẩy phát triển kinh tế số, đồng thời bảo đảm yêu cầu an ninh, an toàn.

Liên quan đến nguy cơ mất an ninh dữ liệu từ các công nghệ mới, đại biểu Lê Nhật Thành dẫn số liệu từ VNCERT (Bộ Công an) cho thấy, từ đầu năm 2026 đến nay, Việt Nam đã ghi nhận hơn 2 triệu cảnh báo tấn công mạng, trong đó gần 50% có sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (AI), với thủ đoạn ngày càng tinh vi.

Theo đại biểu, thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải ngăn chặn các hành vi lợi dụng công nghệ mới như AI, Deepfake để xuyên tạc, xâm phạm dữ liệu.

Dự thảo luật đã có bước tiến đáng ghi nhận khi bao quát các hành vi bị nghiêm cấm như “đầu độc dữ liệu”, thao túng thông tin tại khoản 2, cũng như sử dụng trái phép dữ liệu cốt lõi, bí mật nhà nước để huấn luyện mô hình AI tại khoản 9. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cần tiếp tục hoàn thiện các quy định, dẫn chiếu rõ ràng đến chế tài và cơ chế giám sát, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.

Các ý kiến thảo luận cho thấy, việc hoàn thiện Luật An ninh dữ liệu cần bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể và thiết lập cơ chế quản lý phù hợp với mức độ rủi ro. Đồng thời, các quy định phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng và phát huy giá trị của dữ liệu, hài hòa giữa yêu cầu bảo đảm an ninh, chủ quyền dữ liệu quốc gia với mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số bền vững./.

AD