Dự án Luật An ninh dữ liệu: Hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng của nền kinh tế số, việc xây dựng Luật An ninh dữ liệu được đánh giá là cần thiết nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường bảo vệ dữ liệu và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Bên cạnh việc thống nhất đầu mối quản lý, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ cơ chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng đối với những hoạt động có tính chất lưỡng dụng.
Ngày 26/10/2026, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về một số dự án luật, trong đó có dự án Luật An ninh dữ liệu.
Trình bày tờ trình của Chính phủ, Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an, cho biết việc xây dựng các dự án luật nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đồng thời, các dự án luật hướng tới khắc phục những hạn chế, khó khăn trong thực tiễn, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đơn giản hóa thủ tục hành chính và giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
Theo Bộ trưởng Lương Tam Quang, việc xây dựng các dự án luật cũng nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, phù hợp với Hiến pháp và các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm an ninh, trật tự và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Hoàn thiện cơ chế bảo vệ an ninh dữ liệu
Theo Bộ trưởng Lương Tam Quang, Dự thảo Luật An ninh dữ liệu gồm 6 chương, 29 điều, quy định về nguyên tắc, biện pháp bảo vệ an ninh dữ liệu; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Đối tượng áp dụng bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có hoạt động xử lý dữ liệu thuộc quyền tài phán của Việt Nam hoặc có hành vi xâm phạm an ninh dữ liệu của Việt Nam.
Một nội dung đáng chú ý của dự thảo là quy định 5 cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu. Theo đó, chủ quản dữ liệu tự xác định cấp độ, áp dụng biện pháp bảo vệ tương ứng và chịu trách nhiệm về kết quả xác định, với cơ chế hậu kiểm là chủ yếu. Chủ quản dữ liệu từ cấp độ 3 trở lên phải thực hiện đánh giá tác động và kiểm toán an ninh dữ liệu định kỳ; các hệ thống xử lý dữ liệu cấp độ 4, cấp độ 5 phải được thẩm định theo quy định.
Các biện pháp bảo vệ an ninh dữ liệu được triển khai xuyên suốt vòng đời dữ liệu, từ khâu thiết kế hệ thống đến khi dữ liệu được tiêu hủy. Dự thảo cũng đặt ra yêu cầu bảo vệ đối với hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu quốc gia trọng yếu, hệ thống vật lý - số, hoạt động xử lý dữ liệu quy mô lớn và chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ dữ liệu.
Đối với nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dự thảo yêu cầu kiểm soát nguồn gốc, bảo đảm tính nguyên vẹn của dữ liệu huấn luyện và dữ liệu dẫn xuất; phòng, chống hành vi đầu độc dữ liệu, trích xuất dữ liệu trái phép; đồng thời bảo đảm khả năng can thiệp, kiểm soát của con người đối với hoạt động ra quyết định tự động theo quy định của pháp luật.
Về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước, dự thảo quy định Bộ Công an chủ trì quản lý nhà nước về an ninh dữ liệu; Bộ Quốc phòng quản lý đối với dữ liệu, hệ thống thông tin quân sự; hệ thống thông tin cơ yếu do Ban Cơ yếu Chính phủ quản lý.
Dự thảo đồng thời định hướng sử dụng tổ chức, biên chế hiện có để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh dữ liệu, không hình thành tổ chức, bộ máy mới. Đối với những nội dung trùng lặp giữa các luật có liên quan, dự thảo đề xuất nguyên tắc một bộ hồ sơ, một thủ tục, một đầu mối; công nhận kết quả đã thực hiện hợp pháp theo pháp luật khác và tích hợp hoạt động thẩm định, báo cáo qua hệ thống điện tử thống nhất. Nhà nước cũng có chính sách phát triển công nghiệp an ninh dữ liệu, nguồn nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp.
Làm rõ cơ chế phối hợp đối với hoạt động lưỡng dụng
Thảo luận tại Tổ 13 chiều ngày 26/10/2026, đại biểu Phạm Công Nguyên, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa, đánh giá dự án Luật An ninh dữ liệu là cần thiết, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển kinh tế số, khi dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực có giá trị đối với hoạt động kinh tế và quản trị xã hội.

Đại biểu bày tỏ đồng tình với cách tiếp cận của cơ quan soạn thảo trong việc xác định thẩm quyền quản lý nhà nước và xử lý vi phạm về an ninh dữ liệu. Theo đại biểu, các quy định tại khoản 3 và khoản 6 Điều 26 của dự thảo đã bám sát định hướng của Luật An ninh mạng, góp phần tạo sự rõ ràng, thống nhất trong phân công trách nhiệm giữa các cơ quan.
Theo cách tiếp cận được nêu tại dự thảo, dữ liệu và hệ thống thông tin liên quan đến quân sự, cơ yếu thuộc phạm vi quản lý của các cơ quan có thẩm quyền tương ứng; các lĩnh vực dân sự, kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp được quản lý theo cơ chế dân sự, với Bộ Công an là đầu mối chủ trì quản lý nhà nước về an ninh dữ liệu.
Tuy nhiên, đại biểu Phạm Công Nguyên lưu ý, trên thực tế, một số hoạt động có tính chất lưỡng dụng, vừa phục vụ mục đích dân sự, vừa có liên quan đến quốc phòng, an ninh. Vì vậy, việc phân định thẩm quyền cần đi đôi với cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, tránh chồng chéo hoặc phát sinh khoảng trống trong quản lý.
Đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo, trong quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành luật, tiếp tục bám sát các nguyên tắc đã được xác định trong Luật An ninh mạng và dự thảo Luật An ninh dữ liệu để cụ thể hóa cơ chế phối hợp, đồng thời làm rõ hơn thẩm quyền của từng cơ quan đối với các trường hợp giao thoa, lưỡng dụng.
Việc hoàn thiện các quy định theo hướng rõ trách nhiệm, thống nhất đầu mối và tăng cường phối hợp liên ngành sẽ góp phần nâng cao tính khả thi của Luật An ninh dữ liệu khi được ban hành, đáp ứng yêu cầu bảo vệ dữ liệu trong môi trường số, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế số./.