Truyền thông

Chuyển đổi xanh: Động lực kiến tạo mô hình phát triển bền vững cho nông thôn Việt Nam

VVH • 25/10/2026 09:08

Báo cáo quốc gia “Nông thôn Việt Nam 2026: Chuyển đổi, thích ứng, phát triển bền vững” mở ra những góc nhìn liên ngành, đồng thời gợi mở các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và xây dựng nông thôn hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu.

NV1-BAI-Chuyển đổi xanh nong thon-1
Bìa của Báo cáo quốc gia “Nông thôn Việt Nam 2026: Chuyển đổi, thích ứng, phát triển bền vững”.

Ngày 23/10/2026, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Tọa đàm công bố Báo cáo quốc gia “Nông thôn Việt Nam 2026: Chuyển đổi, thích ứng, phát triển bền vững”. Công trình do GS.TS. Nguyễn Tuấn Anh, GS.TS. Hoàng Anh Tuấn và TS. Phạm Tất Thắng đồng chủ biên, tập hợp các nghiên cứu về những chuyển biến của nông thôn Việt Nam trong bối cảnh phát triển mới.

Khác với cách tiếp cận chỉ tập trung vào sản xuất nông nghiệp hoặc xây dựng kết cấu hạ tầng, Báo cáo xem xét nông thôn như một không gian phát triển đa chức năng, nơi các hoạt động kinh tế, đời sống xã hội, văn hóa, quản trị cộng đồng và môi trường sinh thái có quan hệ mật thiết với nhau.

Trong đó, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số được đặt trong mối liên hệ với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực thích ứng của người dân và phát triển bền vững. Đây cũng là những nội dung có ý nghĩa đối với việc xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn tới.

Chuyển đổi xanh không chỉ là thay đổi phương thức sản xuất

Phát biểu khai mạc tọa đàm, GS. TS. Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh vị trí đặc biệt của nông thôn trong lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước.

Theo ông, nông thôn không đơn thuần là địa bàn sản xuất nông nghiệp mà còn là không gian sinh sống, lao động, sáng tạo của nhiều thế hệ; nơi hình thành, lưu giữ và trao truyền những giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống và tinh thần cộng đồng.

NV1-BAI-Chuyển đổi xanh nong thon-2
GS. TS. Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại Tọa đàm.

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập, nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng về kết cấu hạ tầng, tổ chức sản xuất, sinh kế và đời sống dân cư. Mối liên hệ giữa nông thôn với đô thị, giữa kinh tế địa phương với thị trường trong nước và quốc tế ngày càng chặt chẽ. Các hoạt động công nghiệp, dịch vụ, thương mại và những hình thức việc làm mới đang góp phần định hình lại không gian nông thôn.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cũng làm xuất hiện những thách thức cần được nhận diện đầy đủ, từ chuyển dịch sinh kế, yêu cầu nâng cao kỹ năng lao động, bảo đảm an sinh đến sức ép đối với tài nguyên, môi trường và nguy cơ suy giảm bản sắc văn hóa cộng đồng.

Đặc biệt, GS. TS. Hoàng Anh Tuấn đặt ra yêu cầu xem xét mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống. Ông nhấn mạnh: “Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học và công nghệ cần được xem xét trong sự gắn kết với việc làm, thu nhập, tiếp cận dịch vụ và bảo vệ môi trường”.

Theo GS. TS. Hoàng Anh Tuấn, cần làm rõ những thay đổi đang tạo ra lợi ích như thế nào, người dân có thể tham gia ra sao và cần những điều kiện gì để thành quả phát triển được chia sẻ rộng rãi, bền vững hơn.

Sản xuất nông nghiệp hướng đến kinh tế nông nghiệp xanh, sinh thái và tuần hoàn

Một trong những nội dung đáng chú ý của Báo cáo là sự chuyển dịch tư duy phát triển nông nghiệp, từ chú trọng gia tăng sản lượng sang nâng cao giá trị kinh tế, hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng phát triển bền vững.

Trong nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo định hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi số trong Báo cáo, PGS. TS. Lê Thị Thanh Hà phân tích sự thay đổi cơ cấu ngành, cơ cấu lao động và phân bổ nguồn lực trong mối liên hệ với đổi mới phương thức sản xuất, ứng dụng khoa học và công nghệ, phát triển hạ tầng và tổ chức liên kết kinh tế.

Theo đó, chuyển đổi xanh không chỉ liên quan đến việc sử dụng các công nghệ thân thiện với môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi trong tổ chức nền kinh tế nông thôn. Nông nghiệp cần được kết nối chặt chẽ hơn với công nghiệp chế biến, dịch vụ, thương mại và các hoạt động kinh tế tạo giá trị gia tăng. Đây là bước chuyển có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng xanh. Thay vì chỉ tập trung vào khối lượng nông sản được sản xuất, mô hình kinh tế nông nghiệp cần quan tâm đến giá trị tạo ra trên một đơn vị tài nguyên sử dụng, chất lượng sản phẩm, khả năng tiếp cận thị trường và tác động đối với môi trường sinh thái.

Chẳng hạn, việc phát triển công nghiệp chế biến và bảo quản sau thu hoạch có thể giúp nâng cao giá trị nông sản, hạn chế tổn thất và tạo thêm việc làm. Các mô hình kinh tế tuần hoàn có thể tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để tạo ra sản phẩm hoặc nguồn nguyên liệu mới, qua đó giảm lượng chất thải và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Trong nghiên cứu về hiện đại hóa nông nghiệp cho kỷ nguyên phát triển mới trong Báo cáo, PGS. TS. Lưu Bích Ngọc tiếp cận sự thay đổi tư duy chính sách qua các giai đoạn phát triển: từ bảo đảm an ninh lương thực, phát triển sản xuất hàng hóa đến kinh tế nông nghiệp và mô hình nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn, thông minh, bền vững. Nghiên cứu cho thấy, ứng dụng công nghệ cao cần được đặt trong một hệ sinh thái phát triển rộng hơn, dựa trên tri thức, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, liên kết vùng, thị trường và các tiêu chuẩn xanh.

Điều đó cũng có nghĩa, một mô hình nông nghiệp sử dụng thiết bị hiện đại chưa đương nhiên là mô hình tăng trưởng xanh. Hiệu quả chuyển đổi cần được xem xét trên cơ sở sử dụng tiết kiệm đất, nước, năng lượng; giảm chất thải và phát thải; bảo vệ hệ sinh thái; đồng thời duy trì hiệu quả kinh tế và khả năng thích ứng của người sản xuất.

Khoảng cách giữa phát triển hạ tầng và bảo vệ môi trường

Chuyển đổi xanh ở nông thôn Việt Nam diễn ra trên nền tảng những thành tựu đáng kể của quá trình xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trong Báo cáo quốc gia cũng cho thấy sự phát triển chưa đồng đều giữa các lĩnh vực, đặc biệt là khoảng cách giữa kết cấu hạ tầng cơ bản với hạ tầng và dịch vụ môi trường.

Trong nghiên cứu “Hiện đại hóa xã hội nông thôn qua Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”, TS. Phạm Tất Thắng và GS. TS. Nguyễn Tuấn Anh sử dụng các kết quả tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia và số liệu điều tra nông thôn để đánh giá những thay đổi về điều kiện sống, hạ tầng, cơ cấu lao động và môi trường.

Theo số liệu tổng kết được dẫn trong nghiên cứu, tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới là 79,3%; tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao đạt 42,4%; tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu đạt 12,3%.

NV1-BAI-Chuyển đổi xanh nong thon-3
GS. TS. Nguyễn Tuấn Anh, Tổng biên tập Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội trình bày tổng quan nội dung Báo cáo.

Đáng chú ý, tổng nguồn lực huy động thực hiện các chương trình đến hết tháng 5/2025 đạt khoảng 3,7 triệu tỷ đồng. Trong đó, vốn tín dụng chiếm 60,8%; vốn ngân sách nhà nước chiếm 8,8%; vốn lồng ghép từ các chương trình khác chiếm 7,4%; nguồn huy động từ doanh nghiệp và người dân chiếm 23,1%, theo số liệu được báo cáo công bố. Những kết quả này phản ánh quy mô nguồn lực đã được huy động cho quá trình phát triển nông thôn, đồng thời cho thấy vai trò quan trọng của hệ thống tín dụng, doanh nghiệp và người dân bên cạnh đầu tư công.

Theo phân tích trong Báo cáo quốc gia, tính từ số liệu điều tra, năm 2025 vẫn còn 58,89% số thôn chưa có hệ thống thoát nước thải sinh hoạt chung và 31,15% số thôn chưa được thu gom rác thải sinh hoạt. Đây là những khoảng trống đáng lưu ý đối với mục tiêu xây dựng nông thôn xanh, sạch, hiện đại. Việc mở rộng kết cấu hạ tầng giao thông, điện và các công trình công cộng cần được thực hiện đồng thời với đầu tư hệ thống thu gom, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường.

Một vấn đề khác là chuyển dịch cơ cấu lao động. Tỷ trọng lao động phi nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tổng lao động nông thôn tăng từ 43,70% lên 48,07% trong giai đoạn 2016-2025. Sự thay đổi này phản ánh quá trình đa dạng hóa sinh kế, mở rộng vai trò của công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, chuyển dịch lao động chỉ thực sự đóng góp vào tăng trưởng xanh khi đi cùng nâng cao chất lượng việc làm, phát triển kỹ năng, cải thiện thu nhập và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường.

Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số tạo nền tảng cho tăng trưởng xanh

Một nội dung xuyên suốt trong Báo cáo quốc gia “Nông thôn Việt Nam 2026: Chuyển đổi, thích ứng, phát triển bền vững” là vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với việc nâng cao chất lượng phát triển nông thôn.

Đối với sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ số có thể hỗ trợ theo dõi điều kiện sản xuất, quản lý vật tư đầu vào, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường. Việc sử dụng dữ liệu trong tổ chức sản xuất cũng tạo điều kiện để người nông dân và doanh nghiệp đưa ra quyết định phù hợp hơn với nhu cầu thị trường và điều kiện tài nguyên.

Tuy nhiên, Báo cáo khẳng định, chuyển đổi số cần được triển khai đồng bộ với đổi mới tổ chức sản xuất và nâng cao năng lực của các chủ thể kinh tế. Nếu chỉ đầu tư thiết bị, phần mềm hoặc hạ tầng công nghệ mà thiếu nhân lực có kỹ năng và cơ chế phối hợp phù hợp, hiệu quả chuyển đổi có thể bị hạn chế.

Đặc biệt, đối với hộ nông dân và hợp tác xã, khả năng tiếp cận tri thức, công nghệ, vốn và thị trường là những điều kiện quan trọng để tham gia quá trình chuyển đổi xanh. Điều này đặt ra yêu cầu tăng cường hoạt động đào tạo, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ đổi mới sáng tạo ở khu vực nông thôn. Các cơ sở nghiên cứu, trường đại học cần được kết nối chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương, qua đó đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất.

Một hướng đi đáng quan tâm là xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ phù hợp với điều kiện của từng vùng sản xuất, thay vì áp dụng đồng loạt những giải pháp có chi phí đầu tư cao hoặc đòi hỏi trình độ kỹ thuật vượt quá khả năng tiếp nhận của người dân.

Trong bối cảnh đó, phát triển nguồn nhân lực nông thôn cần trở thành một bộ phận quan trọng của chiến lược tăng trưởng xanh. Người lao động không chỉ cần được trang bị kỹ năng sản xuất mới mà còn phải có khả năng tiếp cận thông tin, sử dụng công nghệ số, thích ứng với biến động thị trường và tham gia các hình thức liên kết kinh tế. Có thể thấy, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai quá trình có khả năng bổ trợ lẫn nhau. Công nghệ số hỗ trợ nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên, trong khi mục tiêu phát triển xanh tạo ra yêu cầu đổi mới công nghệ, phương thức sản xuất và tổ chức nền kinh tế.

Phát triển nông thôn xanh phải lấy người dân làm trung tâm

Bên cạnh các vấn đề kinh tế và công nghệ, Báo cáo quốc gia “Nông thôn Việt Nam 2026: Chuyển đổi, thích ứng, phát triển bền vững” đặc biệt chú trọng chiều cạnh xã hội của phát triển bền vững.

Theo GS. TS. Nguyễn Tuấn Anh, Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, đồng chủ biên Báo cáo quốc gia, phát triển nông thôn cần được nhìn nhận trong mối quan hệ giữa chuyển đổi kinh tế, tổ chức đời sống xã hội, văn hóa, môi trường và quản trị cộng đồng.

Trong phần mở đầu, Báo cáo nhấn mạnh vai trò trung tâm của người dân nông thôn. Người dân vừa trực tiếp tham gia các quá trình chuyển đổi, vừa trải nghiệm những tác động của sự phát triển đối với sinh kế và đời sống. Trong nghiên cứu về hiện đại hóa xã hội nông thôn, GS. TS. Nguyễn Tuấn Anh và TS. Phạm Tất Thắng cũng phân tích vai trò của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đối với việc cải thiện điều kiện sống, mở rộng tiếp cận dịch vụ, phát triển hạ tầng và củng cố đời sống cộng đồng. Các tác giả cho thấy, hiện đại hóa nông thôn không chỉ thể hiện ở số lượng công trình hạ tầng được xây dựng mà còn ở khả năng chuyển những điều kiện vật chất thành cơ hội phát triển thực tế cho người dân.

Một yếu tố khác là sự khác biệt giữa các vùng và nhóm dân cư. Điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, cơ cấu sinh kế và năng lực tiếp cận nguồn lực của các cộng đồng nông thôn không đồng nhất. Vì vậy, chính sách chuyển đổi xanh cần có sự phân hóa phù hợp, đặc biệt quan tâm đến những nhóm có ít nguồn lực và cơ hội phát triển.

Đây cũng là vấn đề được GS. TS. Hoàng Anh Tuấn đề cập trong phát biểu khai mạc tọa đàm. Theo ông, việc nhận diện đúng tính đa dạng của nông thôn sẽ giúp tránh những cách nhìn đơn giản và những giải pháp thiếu phù hợp với điều kiện địa phương.

Hướng tới một mô hình nông thôn phát triển bền vững

Báo cáo quốc gia “Nông thôn Việt Nam 2026: Chuyển đổi, thích ứng, phát triển bền vững” góp phần mở rộng cách tiếp cận đối với phát triển nông thôn trong bối cảnh mới. Thay vì xem xét riêng lẻ các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường, công trình đặt những quá trình chuyển đổi trong mối quan hệ tổng thể, chú trọng vai trò của con người, cộng đồng và năng lực quản trị.

Đặc biệt, các nghiên cứu về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển bền vững cho thấy yêu cầu đổi mới tư duy phát triển từ gia tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị kinh tế, đồng thời bảo đảm trách nhiệm đối với tài nguyên và môi trường.

Những kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bên cạnh các thành tựu về phát triển hạ tầng và xây dựng nông thôn mới, vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục giải quyết, nhất là hạ tầng môi trường, năng lực tiếp cận công nghệ, sự khác biệt giữa các địa phương và khả năng tham gia của người dân.

Như GS. TS. Hoàng Anh Tuấn nhấn mạnh trong phát biểu khai mạc, giá trị của Báo cáo còn nằm ở khả năng khơi mở đối thoại, thúc đẩy hợp tác và hình thành những câu hỏi nghiên cứu có ích cho quá trình phát triển nông thôn.

Từ góc độ tăng trưởng xanh, thông điệp quan trọng được gợi mở là phát triển nông thôn cần chuyển từ việc mở rộng quy mô kinh tế sang nâng cao chất lượng phát triển; từ khai thác nguồn lực sang sử dụng tài nguyên hiệu quả và có trách nhiệm; từ ứng dụng công nghệ đơn lẻ sang đổi mới đồng bộ mô hình sản xuất, tổ chức kinh tế và quản trị.

Chuyển đổi xanh chỉ thực sự trở thành động lực phát triển bền vững khi tạo ra sự hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn. Đây cũng là định hướng có ý nghĩa lâu dài đối với quá trình xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và người nông dân có năng lực thích ứng trong giai đoạn phát triển mới./.

VVH