Khoa học đời sống

Một số phát hiện mới của khảo cổ học Việt Nam giai đoạn 2020-2026

VVH • 24/10/2026 19:05

Những kết quả khai quật khảo cổ học mới tại nhiều địa phương trên cả nước đang cung cấp thêm bằng chứng về đời sống cư dân tiền sử, sự phát triển của các nền văn hóa cổ và quá trình hình thành những trung tâm chính trị, kinh tế, tôn giáo trong lịch sử Việt Nam.

Ngày 24/10/2026, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Báo cáo thường niên Khảo cổ học Việt Nam năm 2026”.

Đây là một trong 21 hoạt động học thuật thuộc Diễn đàn Nhân văn Mùa thu Hà Nội lần thứ nhất năm 2026, được tổ chức trong bối cảnh triển khai các chủ trương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và văn hóa Việt Nam.

VVH-BAI-Một số phát hiện mới
Đại biểu tham dự Hội thảo. (Ảnh: VVH).

Kết quả mới về khảo cổ học tiền sơ sử

Các nghiên cứu khảo cổ học tiền sơ sử được công bố trong kỷ yếu hội thảo trải rộng từ các di tích hang động, mái đá ở miền núi đến những địa điểm cư trú ven biển, đồng bằng và Tây Nguyên. Nhiều kết quả góp phần làm rõ quá trình thích nghi với môi trường, kỹ thuật chế tác công cụ, sự phát triển của nghề thủ công và những chuyển biến kinh tế - xã hội từ thời đại Đá sang thời đại Kim khí.

Một trong những phát hiện đáng chú ý được trình bày trong nghiên cứu của TS. Lê Hải Đăng và cộng sự là kết quả khai quật lần thứ hai mái đá Làng Vành, một địa điểm thuộc văn hóa Hòa Bình được nhà khảo cổ học M. Colani nghiên cứu từ năm 1929. Cuộc khai quật năm 2022 đã xác nhận sự tồn tại của nhiều đơn vị trầm tích khảo cổ còn được bảo lưu bên dưới và ngoài phạm vi hố khai quật trước đây.

Kết quả chỉnh lý bước đầu ghi nhận 1.522 công cụ cuội ghè đẽo, 6.084 mảnh tước, 1.085 cuội và hạch nguyên liệu, 57 hiện vật thuộc nhóm công cụ nghiền, đập và mài, cùng 1.779 mảnh xương, răng động vật. Trong số này, các nhà nghiên cứu bước đầu nhận diện 380 công cụ và mảnh công cụ xương. Bảy mẫu vỏ ốc được định tuổi bằng phương pháp carbon phóng xạ cho kết quả chưa hiệu chuẩn trong khoảng 13.600-22.100 năm BP (BP là cách tính niên đại trước mốc năm 1950).

Tại hang Thẩm Tấu, tỉnh Điện Biên, nhóm nghiên cứu của Phạm Thanh Sơn và cộng sự công bố những bằng chứng về quá trình sử dụng hang động kéo dài từ hậu kỳ Đá cũ đến thời đại Đồ đồng. Các dấu tích có niên đại từ 25.201 năm cal BP đến khoảng 3.000 năm cal BP, trong đó cal BP là niên đại đã hiệu chuẩn.

Kết quả cho thấy khoang ngoài của hang từng được sử dụng làm nơi cư trú và mai táng, sau đó tiếp tục được sử dụng cho hoạt động mai táng trong thời đại Đồ đồng. Phát hiện này bổ sung bằng chứng cho thấy tập quán sử dụng hang động vẫn tồn tại khi nhiều cộng đồng khác đã chuyển sang cư trú tại những địa điểm ngoài trời.

Ở khu vực ven biển Đông Bắc, cuộc khai quật di chỉ Cái Bèo, Hải Phòng năm 2022 do GS. TS. Lâm Thị Mỹ Dung và cộng sự thực hiện đã cung cấp thêm tư liệu về diễn biến văn hóa của cư dân tiền sử. Trên tổng diện tích khai quật 12 m², các nhà khảo cổ thu được 5.130 mảnh gốm tiền sử, 60 hiện vật đá, dấu tích bếp lửa, tàn tích động vật và một số hiện vật xương.

Kết quả phân tích địa tầng và định tuổi cho thấy các lớp văn hóa tại Cái Bèo có diễn biến khác nhau giữa khu vực gần chân núi và khu vực gần biển. Nghiên cứu xác lập khung niên đại khoảng 7.500-5.800 năm BP, đồng thời ghi nhận đồ gốm xuất hiện từ sau khoảng 7.000 năm BP. Sự thay đổi về chất liệu, kiểu dáng và kỹ thuật chế tác gốm phản ánh quá trình phát triển văn hóa của các cộng đồng cư dân ven biển trong thời kỳ này.

Một kết quả khác được TS. Hoàng Văn Diệp và nhóm nghiên cứu hợp tác Việt Nam - Trung Quốc công bố là cuộc khai quật di tích Ngòi Nhù, tỉnh Lào Cai vào tháng 12/2025. Tại hố khai quật rộng 18 m², các nhà nghiên cứu xác định hai lớp văn hóa với 13 lớp khai quật, thu được tổng cộng 3.295 hiện vật, trong đó có 3.132 hiện vật đá ghè đẽo và 152 mảnh gốm màu đỏ pha cát. Tư liệu tại Ngòi Nhù cho thấy cư dân cổ chủ yếu sử dụng nguyên liệu đá cuội địa phương, với kỹ thuật ghè một mặt và tách mảnh.

Đối với thời đại Kim khí, phức hệ di tích Vườn Chuối - Dền Rắn - Mỏ Phượng tại Hà Nội tiếp tục cung cấp những tư liệu có giá trị. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thơ Đình, GS. TS. Lâm Thị Mỹ Dung và Nguyễn Ngọc Quý, các đợt thăm dò, khai quật giai đoạn 2019-2025 đã làm rõ đặc điểm cư trú, mộ táng và hoạt động sản xuất thủ công của cư dân cổ tại khu vực này. Riêng trong giai đoạn 2024-2025, diện tích khai quật tại nửa phía tây Vườn Chuối đạt 6.000 m². Kết quả nghiên cứu xác nhận di tích phát triển liên tục qua bốn giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên muộn, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn, với niên đại từ khoảng 4.000 năm cách ngày nay đến thế kỷ I-II Công nguyên.

Tại Tây Nguyên, kết quả nghiên cứu di tích Thác Hai, tỉnh Đắk Lắk, của Trương Đắc Chiến và Lý Văn Châu cho thấy đây là một di tích phức hợp, bao gồm không gian cư trú, mộ táng và công xưởng sản xuất. Qua bốn đợt khai quật với tổng diện tích khoảng 128 m², các nhà nghiên cứu phát hiện tầng văn hóa dày khoảng 2-2,3 m, chứa nhiều dấu tích hoạt động của cư dân cổ.

Tại Thác Hai có hàng nghìn mũi khoan và phác vật mũi khoan đá, cùng hàng vạn mảnh tước, vảy tước, phản ánh hoạt động chế tác công cụ tại chỗ với quy mô lớn. Các dấu tích liên quan đến sản xuất đồ trang sức đá và thủy tinh cũng được ghi nhận. Di tích bước đầu được xác định có niên đại khoảng 4.000-2.000 năm BP, góp phần làm sáng tỏ sự phát triển nghề thủ công và quan hệ giao lưu văn hóa của cư dân Tây Nguyên thời tiền sơ sử.

Hai mùa khai quật di chỉ Thiện Kế tại Tuyên Quang đã cung cấp những tư liệu mới về văn hóa Gò Mun. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Mạnh và cộng sự, đây là di chỉ ngoài trời thời đại Kim khí có tầng văn hóa nguyên vẹn đầu tiên được khai quật tại địa phương. Các phát hiện cho thấy cư dân từng định cư lâu dài, chôn người chết trong khu vực cư trú và thực hiện hoạt động nấu, đúc đồng ở quy mô nhỏ. Di tích có niên đại tương đối khoảng 3.000-2.700 năm cách ngày nay, góp phần mở rộng phạm vi phân bố đã biết của văn hóa Gò Mun lên vùng trung du phía Bắc.

Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu tiền sơ sử cho thấy sự đa dạng về môi trường cư trú, phương thức sản xuất và truyền thống văn hóa của cư dân cổ Việt Nam. Việc kết hợp nghiên cứu địa tầng, loại hình hiện vật và các phương pháp xác định niên đại đã góp phần bổ sung bằng chứng cho những vấn đề từng chưa được làm rõ, đặc biệt là quá trình chuyển đổi kỹ thuật, phát triển nghề thủ công và sự tương tác giữa các cộng đồng cư dân.

Kết quả mới về khảo cổ học lịch sử

Nếu các nghiên cứu tiền sơ sử tập trung làm rõ đời sống và quá trình phát triển của các cộng đồng cư dân cổ, thì những kết quả khảo cổ học lịch sử góp phần tái dựng diện mạo các kinh đô, thành lũy, công trình tôn giáo và trung tâm giao thương trong quá khứ. Nhiều phát hiện được công bố tại hội thảo đã bổ sung bằng chứng vật chất, giúp kiểm chứng, làm rõ và mở rộng những thông tin được ghi chép trong thư tịch cổ.

Một trong những kết quả nổi bật là cuộc khai quật thăm dò khu vực chính điện Kính Thiên, thuộc Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội năm 2026. Theo báo cáo của Hà Văn Cẩn, PGS.TS Tống Trung Tín và cộng sự, cuộc khai quật lần thứ tư tại khu vực này có tổng diện tích 910 m², làm xuất lộ địa tầng văn hóa dày tới 6 m, gồm sáu lớp phát triển liên tục từ thời Đại La (thế kỷ VII-IX) đến thời cận hiện đại (thế kỷ XIX-XX). Các nhà khảo cổ đã phát hiện và làm rõ dấu tích kiến trúc điện Long Thiên thời Nguyễn, bao gồm hệ thống móng cột, bậc thềm và cống thoát nước.

Đặc biệt, những dấu tích của chính điện Kính Thiên thời Lê sơ và Lê Trung hưng (thế kỷ XV-XVIII) được nhận diện thông qua hệ thống móng cột đơn, cột kép quy mô lớn, cùng kết cấu sân gạch và bó nền. Các kết quả này cung cấp thêm cơ sở khoa học quan trọng để nghiên cứu cấu trúc, quy mô và phương án phục dựng chính điện Kính Thiên, qua đó góp phần phát huy giá trị Di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long.

Tại Ninh Bình, nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quý và cộng sự tổng hợp kết quả các đợt khai quật khu di tích Cố đô Hoa Lư trong giai đoạn 2021-2025. Hoạt động khảo cổ được thực hiện tại nhiều địa điểm, gồm khu vực cánh đồng giữa đền Đinh và đền Lê, Nội Trong, Hang Trâu, Nhất Trụ, Tường Đông Bắc và Tường Dền. Những tư liệu thu được góp phần củng cố nhận thức về không gian kinh đô Hoa Lư, nơi các công trình kiến trúc đền đài, cung điện được bố trí trong thung lũng núi, kết hợp hệ thống tường thành nhân tạo và địa hình tự nhiên.

Các phát hiện tại Hoa Lư cũng góp phần nhận diện mặt bằng tổng thể, niên đại và những giai đoạn phát triển của khu di tích từ thế kỷ VII đến thế kỷ X. Đây là nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử kinh đô, đồng thời hỗ trợ địa phương xây dựng các chương trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với hoạt động du lịch.

Đối với lịch sử giao thương đường biển, kết quả khai quật khu di tích thương cảng quốc tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, năm 2022 do TS. Lê Thị Liên và cộng sự thực hiện đã cung cấp thêm bằng chứng về cấu trúc và hoạt động của một thương cảng quan trọng trong lịch sử. Tại Vụng Huyện Nhỏ trên đảo Cống Đông, đoàn nghiên cứu mở tám hố thăm dò với tổng diện tích 47 m², phát hiện dấu tích kiến trúc, cư trú, khu mộ táng cùng nhiều loại hình di vật.

Trên đảo Quan Lạn, các hố thăm dò và khai quật ghi nhận dấu tích kiến trúc, phế thải lò nung, nguyên liệu đất sét, đồ gốm Việt Nam, đồ sứ Trung Quốc và tiền đồng. Đặc biệt, những hiện vật liên quan đến quá trình sản xuất gốm cho thấy hoạt động thủ công tại chỗ. Kết quả nghiên cứu tiếp tục củng cố nhận định rằng thương cảng Vân Đồn là một hệ thống gồm nhiều địa điểm phân bố trên không gian đảo ven biển rộng lớn, với chức năng kinh tế thay đổi qua các thời kỳ lịch sử.

Nhóm nghiên cứu của Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Ngọc Quý và Nguyễn Công Khiết đã tổng hợp những kết quả khảo cổ giai đoạn 2018-2025 tại thánh địa Mỹ Sơn, TP. Đà Nẵng, Các cuộc nghiên cứu tại khu vực Nhà Đôi, tháp K, tháp L và những vị trí liên quan đã phát hiện thêm nhiều dấu tích kiến trúc. Trong đó, đáng chú ý là dấu tích con đường dẫn thiêng ở phía đông tháp K, hướng vào khu trung tâm thung lũng Mỹ Sơn.

Những phát hiện này cho thấy bên cạnh hệ thống đền tháp hiện còn, Mỹ Sơn vẫn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc chưa được nhận diện đầy đủ. Các nhà nghiên cứu đặt ra yêu cầu tiếp tục khảo sát để làm rõ tổ chức không gian thánh địa qua từng giai đoạn lịch sử, đặc biệt là vấn đề về sự hiện diện của con đường Hoàng gia dẫn vào khu trung tâm Mỹ Sơn của người Chăm xưa.

Ở lĩnh vực khảo cổ học kiến trúc tôn giáo, cuộc khai quật Tĩnh Lự Thiền Tự tại Bắc Ninh năm 2022 đã cung cấp những tư liệu mới về lịch sử phát triển của một ngôi chùa có quan hệ mật thiết với hoàng gia. Theo nghiên cứu của PGS.TS. Đặng Hồng Sơn và cộng sự, lịch sử địa điểm này bắt đầu từ một ngôi mộ gạch có niên đại thế kỷ I-III, sau đó phát triển thành công trình Phật giáo mang tính chất hoàng gia thời Lý. Hoạt động tôn giáo tiếp tục được duy trì qua các thời Trần, Lê sơ và Mạc, trước khi nơi đây trở thành trung tâm Phật giáo lớn của hoàng gia thời Lê trung hưng.

Nghiên cứu của TS. Nguyễn Đức Bình về thành Bình Ca tại Tuyên Quang cũng bổ sung những nhận thức mới về hệ thống thành lũy nhà Bầu trong thế kỷ XVI-XVII. Các đợt khảo cổ từ năm 1995 đến năm 2026 đã phát hiện những đoạn kè chân tường thành bằng đá, dấu tích kiến trúc và hàng nghìn di vật, bao gồm vật liệu xây dựng, đồ gốm sinh hoạt và một số loại vũ khí. Những tư liệu này góp phần xác định quy mô, cấu trúc và vai trò phòng thủ của thành Bình Ca trong hệ thống căn cứ quân sự do các chúa Bầu xây dựng.

Có thể thấy, khảo cổ học lịch sử đang đóng góp những bằng chứng trực tiếp cho việc nghiên cứu các công trình kiến trúc, thiết chế chính trị, hoạt động kinh tế và đời sống văn hóa trong quá khứ. Đặc biệt, những phát hiện về nền móng kiến trúc, hệ thống thành lũy, công trình tôn giáo và không gian thương cảng có ý nghĩa thiết thực đối với việc xây dựng phương án bảo tồn, phục hồi và giới thiệu di sản đến công chúng./.

VVH