Đổi mới sáng tạo

Thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp: Thực trạng, điểm nghẽn và giải pháp

VVH • 24/10/2026 14:00

Liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp là một trong những điều kiện quan trọng để đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng. Các chính sách mới cùng những mô hình hợp tác có sản phẩm thực tế đang tạo chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường vẫn lớn, đòi hỏi đổi mới đồng bộ cách đặt hàng, huy động vốn, tổ chức chuyển giao và đánh giá hiệu quả.

NV9-BAI-Thuc day lien ket vien truong doanh nghiep
Ảnh minh họa do AI tạo.

Thực trạng - nguồn lực nghiên cứu lớn, hợp tác đã có kết quả nhưng chưa tương xứng

Khối giáo dục đại học hiện là một trụ cột nghiên cứu của Việt Nam. Theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo: "Thúc đẩy phát triển hệ sinh thái hợp tác trong đào tạo nhân lực trình độ cao, nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ gắn với nhu cầu doanh nghiệp và địa phương" tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ diễn ra ngày 23/10/2026 (Báo cáo của Bộ GD&ĐT), đến tháng 8/2026, hệ thống có 95.198 giảng viên, gồm 872 giáo sư, 6.833 phó giáo sư và 29.454 tiến sĩ. Tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ tăng từ 32,6% năm học 2023-2024 lên 36,3% năm học 2025-2026. Gần 2,8 triệu người học, trong đó 139.276 học viên thạc sĩ và 63.867 nghiên cứu sinh, tạo ra nguồn lực nhân lực đáng kể cho các lĩnh vực công nghệ ưu tiên.

Chuyển dịch đào tạo sang lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) cũng rõ hơn: 848.286 người đang học thuộc tám lĩnh vực STEM; đợt một tuyển sinh năm 2026 có 212.601 thí sinh xác nhận nhập học STEM, chiếm 33,6%; nhóm vi mạch bán dẫn có hơn 5.000 thí sinh trúng tuyển.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt 103 chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài năng STEM tại 23 cơ sở giáo dục đại học, cùng chín chương trình bán dẫn đợt đầu tại hai cơ sở.

Năng lực tạo tri thức được phản ánh qua công bố và sáng chế. Năm 2025, khối giáo dục đại học có 21.014 công bố thuộc Scopus, tăng 16,1% so với năm 2024 và chiếm 83,61% tổng công bố cả nước; chín tháng năm 2026, tỷ trọng đạt 84,99%. Số đơn đăng ký sáng chế của các cơ sở giáo dục đại học đạt 496 đơn trong năm 2025 và 513 đơn chỉ trong chín tháng năm 2026.

Ở phía doanh nghiệp, theo Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ: "Thực trạng, điểm nghẽn và giải pháp thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ" tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ diễn ra ngày 23/10/2026 (Báo cáo của Bộ KH&CN), giai đoạn 2021-2025 có 181 trong 1.451 nhiệm vụ cấp quốc gia được thống kê do doanh nghiệp chủ trì, tương đương 12,5%; kinh phí của nhóm nhiệm vụ này chiếm 25,7% tổng kinh phí các nhiệm vụ được tổng hợp.

Một số địa phương, tỷ lệ nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước có đối ứng của doanh nghiệp kết hợp với viện, trường là 53% tại An Giang, 47% tại Gia Lai và khoảng 40% tại Hà Nội. Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII 2026) xếp Việt Nam thứ 24 về hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa đại học và doanh nghiệp, trong khi Singapore thứ 8.

Một số mô hình đã chứng minh khả năng tạo sản phẩm. Năm 2026, Viettel và Trường Đại học Công nghệ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội bàn giao, ứng dụng kết quả ba nhiệm vụ: trợ lý lập trình CoDev, mô hình ngôn ngữ viễn thông TelcoLLM và nền tảng AI Platform. Viện Nghiên cứu Cơ khí phối hợp các trường và doanh nghiệp thiết kế, chế tạo bảy hệ thống thiết bị phụ cho tổ máy nhiệt điện than công suất đến khoảng 600 MW, được ứng dụng tại Sông Hậu 1, Thái Bình 1 và Nghi Sơn 2.

Trong lĩnh vực sản xuất, Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô hợp tác với Công ty Giấy Sông Đuống giúp giảm 10,8% điện năng tiêu thụ, tăng 5,09% tốc độ máy xeo. Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long chuyển giao giống OM 18 và OM 9577 cho Tập đoàn Lộc Trời với mức chi trả 200 đồng cho viện trên mỗi kilôgam giống bán ra. Cơ chế chia sẻ lợi ích theo sản lượng tiêu thụ này gắn lợi ích của bên nghiên cứu với khả năng khai thác thực tế.

Ở nhóm thiết bị điện, sau khi tổ máy biến áp 500 kV - 3×300 MVA được đóng điện thành công tháng 12/2025, Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh tiếp tục hợp tác với Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội triển khai dự án cuộn kháng bù ngang 500 kV từ tháng 9/2026. Tổng kinh phí dự án khoảng 82,49 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 22,25 tỷ đồng.

Nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của các cơ sở giáo dục đại học trong tập dữ liệu Chuẩn cơ sở giáo dục đại học kỳ 2025 tăng 58,07% so với năm 2024, nhưng mới chiếm 4,94% tổng thu. Trường Đại học Bách khoa thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 137 tỷ đồng doanh thu thương mại hóa năm 2025, khoảng 60% từ nghiên cứu theo đặt hàng. Đại học Quốc gia Hà Nội ghi nhận doanh thu chuyển giao khoa học và công nghệ trên 52 tỷ đồng năm 2025.

Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho biết đến tháng 10/2026 đã tập hợp danh mục 1.022 sản phẩm, công nghệ của 41 đơn vị thuộc 19 cơ quan quản lý. Trong đó, 334 sản phẩm (32,7%) đạt mức sẵn sàng công nghệ TRL 7-9; 121 sản phẩm (11,8%) ở mức TRL 5-6; 83 sản phẩm (8,1%) ở TRL 1-4; còn 484 sản phẩm (47,4%) chưa xác định được mức TRL theo cách thống nhất. Đây là nguồn cung tiềm năng, đồng thời bộc lộ nhu cầu chuẩn hóa thông tin trước khi chào bán và chuyển giao.

Một điểm đáng chú ý khác là hợp tác doanh nghiệp có thể đi cùng chất lượng nghiên cứu. Theo số liệu Scopus năm 2025 được Bộ Khoa học và Công nghệ tổng hợp, công bố có doanh nghiệp tham gia đạt bình quân 3,9 trích dẫn mỗi bài và chỉ số trích dẫn chuẩn hóa theo lĩnh vực FWCI 2,89; nhóm không hợp tác với doanh nghiệp lần lượt đạt 1,8 và 0,95. Đây là khác biệt mô tả, chưa đủ để khẳng định quan hệ nhân quả.

Điểm nghẽn - đường đi từ phòng thí nghiệm đến thị trường chưa thông

Dù có những kết quả tích cực, quy mô hợp tác còn hạn chế. Công bố có hợp tác doanh nghiệp chỉ chiếm 3,7% tổng số công bố Scopus năm 2025. Trên Web of Science, tỷ lệ tương ứng giảm từ 1,47% năm 2015 xuống 1,03% năm 2025. Theo Báo cáo GII 2026, chi nghiên cứu và phát triển do khu vực doanh nghiệp thực hiện của Việt Nam tương đương 0,3% GDP, thấp hơn Singapore (1,3%), Trung Quốc (2,1%) và Hàn Quốc (4,2%).

Khoảng cách còn nằm ở đội ngũ tiếp nhận công nghệ. Tỷ lệ nhà nghiên cứu làm việc trong doanh nghiệp tại Việt Nam là 27,5%, so với 54,4% tại Singapore, 60,4% tại Trung Quốc và 81,9% tại Hàn Quốc. Năm 2024, chỉ 34,6% doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đổi mới sáng tạo; ở doanh nghiệp nhỏ tỷ lệ là 28,8%, trong khi doanh nghiệp lớn đạt 63,1%. Tỷ lệ doanh nghiệp có bộ phận nghiên cứu và phát triển lần lượt chỉ 6,7% ở nhóm nhỏ, 10,1% ở nhóm vừa và 27,6% ở nhóm lớn.

Từ số liệu trên đây, có thể nhận diện một số điểm nghẽn:

Bài toán nghiên cứu và nhu cầu thị trường chưa gặp nhau ngay từ đầu. Không ít doanh nghiệp tham gia khi đề tài đã hình thành hoặc đã nghiệm thu, nên yêu cầu về tính năng, chi phí, độ ổn định, khả năng tích hợp và dịch vụ vận hành chưa được xác định đầy đủ. Nhiều hợp tác mới dừng ở biên bản ghi nhớ, thiếu cam kết về tiền, người, tiến độ, quyền khai thác và tiêu chí nghiệm thu. Khi sản phẩm ra đời, đối tác tiếp nhận lại phải đặt ra yêu cầu điều chỉnh lớn.

Thiếu nguồn lực cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ. Kết quả ở phòng thí nghiệm thường chưa có dữ liệu thử nghiệm trên dây chuyền thực, chứng nhận chất lượng, thiết kế sản xuất hàng loạt hoặc phương án kinh doanh. Doanh nghiệp khó huy động vốn khi chưa lượng hóa được giá thành, thị trường và rủi ro; phía nghiên cứu cũng khó tự tài trợ kéo dài đến mức sẵn sàng thương mại. Đáng chú ý, doanh nghiệp thường ưu tiên sản phẩm đạt TRL 6-7 trở lên, trong khi nhiều nghiên cứu sử dụng ngân sách còn ở giai đoạn thấp hơn.

Quyền tự chủ và cơ chế phân chia lợi ích chưa được cụ thể hóa đủ sâu trong từng đơn vị. Các bên có thể lúng túng khi định giá tài sản trí tuệ, giao quyền khai thác, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu và xử lý rủi ro thử nghiệm. Một số đơn vị vẫn e ngại trách nhiệm thanh tra, kiểm toán khi quyết định thương mại hóa tài sản hình thành từ nguồn lực công. Sự khác biệt về yêu cầu công bố của nhà khoa học và bảo mật của doanh nghiệp cũng cần được thỏa thuận ngay từ khâu ký hợp đồng.

Thiếu tổ chức trung gian chuyên nghiệp. Nhà khoa học thường phải tự tìm khách hàng, thương lượng hợp đồng, xác lập quyền sở hữu trí tuệ và xử lý thủ tục, trong khi những công việc này cần chuyên môn pháp lý, tài chính, thị trường. Doanh nghiệp lại khó tiếp cận thông tin đáng tin cậy về mức sẵn sàng, năng lực sản xuất và điều kiện chuyển giao. Đến ngày 22/8/2026, các sàn được tổng hợp có khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua, tương đương khoảng 83 công nghệ trên một nhu cầu.

Thiếu động lực và nhân lực chuyên trách. Công việc hiệu chỉnh công nghệ, xử lý lỗi, đào tạo vận hành, hỗ trợ sau bàn giao của giảng viên và nhà khoa học chưa luôn được ghi nhận tương xứng trong đánh giá, đãi ngộ. Theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, số người học trên một giảng viên cơ hữu tăng từ 24,3 năm học 2023-2024 lên 30,1 năm học 2025-2026, tạo thêm áp lực thời gian đối với hoạt động nghiên cứu và hợp tác doanh nghiệp.

Thị trường đầu tiên cho sản phẩm mới còn khó hình thành. Sản phẩm công nghệ mới thiếu khách hàng tham chiếu, dữ liệu vận hành và lịch sử hợp đồng, trong khi các yêu cầu mua sắm đôi khi dựa trên kinh nghiệm, doanh thu hoặc thông số của sản phẩm đã phổ biến. Nếu không có cơ chế thử nghiệm, đánh giá và chuyển sang mua sắm chính thức phù hợp, sản phẩm nghiên cứu khó vượt qua giai đoạn chứng minh hiệu quả.

Phân bổ và đánh giá nguồn lực. Theo Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2023 có khoảng 88,7% kinh phí nghiên cứu và phát triển của các tổ chức nghiên cứu và phát triển đến từ ngân sách nhà nước. Kinh phí viện, trường nhận từ doanh nghiệp trong nước khoảng 179 tỷ đồng, thấp hơn khoản nhận từ nước ngoài khoảng 259 tỷ đồng. Việc đánh giá hợp tác còn nặng về số đề tài, biên bản ghi nhớ, chưa phản ánh đầy đủ vốn thực góp, doanh thu chuyển giao và mức độ ứng dụng.

Giải pháp - đặt hàng từ nhu cầu, đồng tài trợ theo thực góp và đo bằng kết quả

Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nêu lên một số giải pháp nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy hợp tác viện, trường với doanh nghiệp hiệu quả.

Trước hết, cần đổi mới quy trình hình thành nhiệm vụ theo hướng bắt đầu từ bài toán công nghệ của doanh nghiệp, ngành và địa phương. Đơn đặt hàng phải xác định rõ mục tiêu, tính năng, mức sẵn sàng, tiêu chí nghiệm thu, đơn vị tiếp nhận và khả năng chi trả. Doanh nghiệp nên tham gia ngay từ bước xác định yêu cầu kỹ thuật, không chỉ xuất hiện ở thời điểm nghiệm thu. Với bài toán liên ngành, cần có doanh nghiệp đầu mối tích hợp kết quả nghiên cứu thành giải pháp hoàn chỉnh.

Thứ hai, cần đồng tài trợ trên cơ sở kinh phí doanh nghiệp thực góp, thay vì chỉ dựa trên mức vốn cam kết. Vốn ngân sách có thể giữ vai trò dẫn dắt ở giai đoạn rủi ro cao, trong khi nguồn lực của doanh nghiệp cần được giải ngân theo tiến độ và mốc kỹ thuật. Cơ chế này giúp kiểm chứng nhu cầu thị trường và hạn chế tình trạng đối tác đăng ký tham gia nhưng không bố trí đủ tiền, chuyên gia hoặc điều kiện thử nghiệm.

Thứ ba, thiết lập cơ chế tài trợ liên tục cho các khâu chứng minh nguyên lý, thử nghiệm, hoàn thiện, kiểm định, chứng nhận và sản xuất thử. Cần dành sự chú ý đặc biệt cho giai đoạn TRL 4-7, nơi nghiên cứu thường cần nhiều vốn nhưng chưa đủ điều kiện vay thương mại. Phòng thí nghiệm dùng chung, xưởng thực nghiệm, cơ sở đo lường và hạ tầng chất lượng quốc gia cần được khai thác theo quy chế minh bạch, thuận tiện cho cả doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ tư, cụ thể hóa quyền tự chủ bằng quy chế và hợp đồng có thể áp dụng ngay. Viện, trường cần quy định rõ thẩm quyền quyết định giá và phương án thương mại hóa, nguyên tắc phân chia lợi ích, điều kiện sử dụng tài sản trí tuệ, bảo mật, trách nhiệm thử nghiệm và cơ chế xử lý rủi ro. Nhà khoa học cần được ghi nhận kết quả chuyển giao, thời gian làm việc tại doanh nghiệp, đóng góp trong doanh nghiệp khởi nguồn và hỗ trợ kỹ thuật sau bàn giao.

Thứ năm, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp. Chính sách hỗ trợ không nên chỉ tập trung vào phía cung nghiên cứu mà cần khuyến khích doanh nghiệp xây dựng bộ phận nghiên cứu và phát triển, tuyển kỹ sư, cử chuyên gia tham gia nhóm nghiên cứu chung và sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ để đặt hàng. Các hiệp hội có thể tổng hợp nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa thành các bài toán có quy mô đủ lớn để viện, trường triển khai.

Thứ sáu, phát triển tổ chức trung gian chuyển giao công nghệ theo hướng hỗ trợ trọn chuỗi giao dịch. Văn phòng chuyển giao tại đại học, doanh nghiệp quản lý tài sản trí tuệ, đơn vị môi giới, tổ chức định giá và sàn giao dịch cần phối hợp chuẩn hóa hồ sơ công nghệ: mức TRL, quyền sở hữu, dữ liệu thử nghiệm, chi phí đầu tư bổ sung, tiêu chuẩn, chứng nhận và khả năng cung ứng. Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất phát triển Techmartvietnam.vn thành nền tảng số quốc gia kết nối các sàn địa phương.

Thứ bảy, hình thành khách hàng đầu tiên cho sản phẩm khoa học và công nghệ trong nước thông qua đặt hàng, thử nghiệm và mua sắm công phù hợp pháp luật. Các cơ quan nhà nước, tập đoàn và tổng công ty nhà nước có thể công bố nhu cầu, tham gia xác định tiêu chuẩn, thử nghiệm và đánh giá sản phẩm. Cần bảo đảm yêu cầu về chất lượng, an toàn, hiệu quả ngân sách, đồng thời tránh đặt ra những điều kiện không cần thiết khiến sản phẩm mới không có cơ hội cạnh tranh.

Thứ tám, thay đổi thước đo hiệu quả hợp tác. Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất hệ thống 10 chỉ số, gồm sáu chỉ số khai thác từ dữ liệu thống kê và quốc tế cùng bốn chỉ số phát triển trong giai đoạn 2026-2030: thu nhập của viện, trường từ hợp đồng với doanh nghiệp; thu nhập li-xăng, chuyển giao và số doanh nghiệp khởi nguồn duy trì sau ba năm; kinh phí doanh nghiệp thực góp vào nhiệm vụ dùng ngân sách; giá trị mua sắm công đối với sản phẩm khoa học và công nghệ mới trong nước./.

(Tổng hợp từ: Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ: "Thực trạng, điểm nghẽn và giải pháp thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ" và Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo: "Thúc đẩy phát triển hệ sinh thái hợp tác trong đào tạo nhân lực trình độ cao, nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ gắn với nhu cầu doanh nghiệp và địa phương" tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ diễn ra ngày 23/10/2026)

VVH