Viện, trường và DN cạnh tranh bình đẳng trong nghiên cứu, giải quyết vấn đề thực tiễn
Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân đề nghị các cơ quan quản lý phối hợp với bộ chuyên ngành xác định những "bài toán lớn" theo chuỗi giá trị của nền kinh tế, tạo điều kiện để viện, trường và DN cạnh tranh bình đẳng trong nghiên cứu, giải quyết vấn đề thực tiễn.
.jpg)
Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp (DN) trong nghiên cứu, phát triển KH&CN được Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức sáng ngày 23/10/2026 tại trụ sở Chính phủ, theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, với sự tham dự của đại diện các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học (ĐH) và cộng đồng DN.
Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy liên kết thực chất
Tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS), xác định đây là những động lực tăng trưởng mới của đất nước.
Thời gian qua, chính sách trong lĩnh vực này từng bước chuyển từ kiểm soát quy trình đầu vào sang quản lý kết quả, sản phẩm đầu ra; từ giao nhiệm vụ sang đo lường hiệu quả, đánh giá tác động; từ quản lý hành chính sang kiến tạo hệ sinh thái, lấy DN làm trung tâm.

Tuy nhiên, theo Phó Thủ tướng, việc đưa chính sách vào thực tiễn còn chậm. Liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học (ĐH), DN và thị trường chưa chặt chẽ; nhiều nhiệm vụ nghiên cứu chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế của DN và nền kinh tế.
Theo số liệu được Phó Thủ tướng dẫn tại Hội nghị, giai đoạn 2021-2025, chỉ khoảng 12% nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia có sự tham gia của DN; tỷ lệ này ở cấp địa phương khoảng 11%. Năm 2023, tỷ lệ DN tham gia hình thành quỹ KH&CN để tài trợ nghiên cứu chỉ khoảng 6%.
Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của DN Việt Nam tương đương 0,3% GDP, thấp hơn mức 2,1% của Trung Quốc và 4,2% của Hàn Quốc. Nhân lực nghiên cứu cũng phân bổ chưa cân đối: chỉ 333 nhà nghiên cứu có bằng tiến sĩ làm việc tại DN, trong khi khoảng 21.000 người làm việc tại các viện nghiên cứu, trường ĐH.
Những hạn chế trong liên kết nghiên cứu với thị trường còn thể hiện qua kết quả SHTT và giao dịch công nghệ. Giai đoạn 2021-2025, DN Việt Nam được cấp hơn 700 bằng sáng chế, trong khi DN nước ngoài được cấp khoảng 24.000 bằng, gấp khoảng 35 lần. Trên hơn 20 sàn giao dịch KH&CN, khoảng 62.000 công nghệ được chào bán nhưng chỉ có 750 nhà đầu tư, DN tìm hiểu và phát sinh 72 giao dịch.
Từ thực tế này, Phó Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, viện nghiên cứu, trường ĐH và DN thẳng thắn chỉ rõ những vướng mắc về thể chế, cơ chế tài chính, tham gia nghiên cứu, sử dụng kết quả KH&CN và thương mại hóa sản phẩm.
Bảy điểm nghẽn trong liên kết viện, trường và doanh nghiệp
Báo cáo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định phân tích thực trạng, những điểm nghẽn và giải pháp thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường ĐH với DN trong nghiên cứu, phát triển KH&CN.
Thứ trưởng Lê Xuân Định cho rằng, hiệu quả liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường ĐH và DN không thể chỉ đo bằng số lượng biên bản ghi nhớ hợp tác. Điều quan trọng là cơ chế phân chia lợi ích, dòng tiền và trách nhiệm cụ thể của từng bên.
.jpg)
Giai đoạn 2021-2025, DN chủ trì 181 trong tổng số 1.451 nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, chiếm 12,5% về số lượng và 25,7% về kinh phí. Tỷ lệ nhiệm vụ KH&CN cấp địa phương có DN liên kết, đối ứng vốn đạt khoảng 21%. Một số địa phương có tỷ lệ cao như An Giang đạt 53%, Gia Lai 47% và Hà Nội 40%.
Theo Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII), Việt Nam xếp thứ 24 trong số 133 quốc gia, nền kinh tế về hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa trường ĐH với DN. Tuy nhiên, đầu tư R&D của DN vẫn thấp, trong khi phần lớn nhân lực nghiên cứu tập trung tại các viện và trường.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, Bộ KH&CN xác định 7 điểm nghẽn chủ yếu:
Thứ nhất, hoạt động nghiên cứu chưa bám sát nhu cầu của DN và yêu cầu thương mại hóa.
Thứ hai, vốn đối ứng của DN phần lớn mới dừng ở cam kết, chưa được hiện thực hóa đầy đủ.
Thứ ba, các viện nghiên cứu, trường đại học còn lo ngại rủi ro thanh tra, kiểm toán khi định giá, góp vốn bằng tài sản công và khai thác kết quả nghiên cứu.
Thứ tư, thiếu các văn phòng chuyển giao công nghệ chuyên nghiệp (TTO), hạn chế khả năng kết nối kết quả nghiên cứu với nhu cầu thị trường.
Thứ năm, động lực đổi mới sáng tạo và năng lực tiếp nhận công nghệ của DN còn yếu. Theo báo cáo, chưa đến 28% DN lớn có bộ phận R&D.
Thứ sáu, thiếu chính sách mua sắm công hỗ trợ sản phẩm mới, trong đó Nhà nước đóng vai trò khách hàng đầu tiên, tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm KH&CN.
Thứ bảy, phân bổ ngân sách chưa gắn chặt với kết quả hợp tác; hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) của nhà khoa học và DN chưa đồng bộ.
Đề xuất giải pháp thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, Bộ KH&CN đề xuất triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp từ cuối năm 2026, tập trung vào hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả liên kết, phát triển nhân lực nghiên cứu và thúc đẩy thương mại hóa kết quả KH&CN.
Trước hết, Bộ KH&CN đề xuất xây dựng bộ 10 chỉ số đánh giá mức độ liên kết, dự kiến đưa vào Sách trắng KH&CN từ năm 2027. Bộ chỉ số sẽ làm cơ sở chuẩn hóa việc đo lường kết quả và hiệu quả hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường ĐH với DN.
Về nhân lực, Bộ đề xuất quy định chính thức cơ chế luân chuyển, công nhận thời gian giảng viên làm việc tại DN; đồng thời thúc đẩy phát triển mô hình DN khởi nguồn từ kết quả nghiên cứu.
Bên cạnh đó, Nhà nước và DN nhà nước được định hướng phát huy vai trò kiến tạo, chia sẻ rủi ro và tiên phong trở thành khách hàng đầu tiên đối với các sản phẩm công nghệ mới. Đây là một trong những giải pháp nhằm hình thành thị trường, tạo điều kiện đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng và đẩy nhanh quá trình thương mại hóa.
“Việc nhận diện đúng các điểm nghẽn, gắn trách nhiệm và hiệu quả hợp tác với kết quả thực tế được kỳ vọng góp phần tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và DN, phát huy vai trò của KH&CN, đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế”, Thứ trưởng Lê Xuân Định nhấn mạnh.
Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân nhấn mạnh hai định hướng trọng tâm: triển khai chính sách ưu đãi đột phá cho nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ cao, công nghệ chiến lược; đổi mới phương thức hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường ĐH và DN, lấy sản phẩm thực tiễn làm thước đo hiệu quả.

Theo Bộ trưởng, cơ chế hiện hành cho phép Nhà nước hỗ trợ tới 100% kinh phí đối với nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược do bộ, ngành đặt hàng DN; hỗ trợ từ 70% đến 100% lãi suất vay, tối đa 10%/năm, và từ 70% đến 100% chi phí thử nghiệm, kiểm định lần đầu đối với sản phẩm mới.
Bộ trưởng cũng đề nghị các cơ quan quản lý phối hợp với bộ chuyên ngành xác định những "bài toán lớn" theo chuỗi giá trị của nền kinh tế, tạo điều kiện để viện, trường và DN cạnh tranh bình đẳng trong nghiên cứu, giải quyết vấn đề thực tiễn. Chẳng hạn, với chuỗi xuất khẩu thủy sản, cần triển khai đồng bộ từ con giống, thức ăn, vaccine đến chế biến sâu.
Các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới
Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách đã ban hành, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn và hiệu quả cụ thể.
Phó Thủ tướng giao Bộ KH&CN chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương đánh giá năng lực các cơ sở nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước; phân loại theo ngành, lĩnh vực, vùng miền và xây dựng bản đồ hệ thống cơ sở nghiên cứu KH&CN quốc gia. Bản đồ sẽ tích hợp dữ liệu về năng lực, thế mạnh của từng đơn vị, giúp DN thuận lợi tìm kiếm đối tác và kết nối hợp tác.
Bộ KH&CN đồng thời rà soát, xác định mục tiêu nghiên cứu theo từng ngành, lĩnh vực và giai đoạn; tổ chức các hoạt động chuyên đề để xác định nhu cầu ứng dụng KH&CN. Việc tái cấu trúc các chương trình KH&CN quốc gia đến năm 2030 cần gắn với năng lực thực tế, tránh trùng lặp và lãng phí nguồn lực.
Một nhiệm vụ trọng tâm khác là đổi mới phương thức giao nhiệm vụ nghiên cứu, chuyển từ xét duyệt từng đề tài đơn lẻ sang giao khoán kinh phí, nhiệm vụ trọn gói cho các đơn vị có đủ năng lực, gắn trách nhiệm với sản phẩm đầu ra.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu thúc đẩy liên kết với DN, phấn đấu trong giai đoạn 2026-2027 có từ 30% đến 50% đề tài nghiên cứu xuất phát từ đặt hàng của DN, có sự hợp tác và chia sẻ nguồn lực giữa các bên.
Cùng với đó, cần thiết lập kênh tiếp nhận, giải đáp trực tiếp vướng mắc của viện nghiên cứu, trường đại học và DN; rà soát các kết quả nghiên cứu tiềm năng để hỗ trợ hoàn thiện công nghệ, kiểm định, thử nghiệm và kết nối thị trường.
Phó Thủ tướng yêu cầu khẩn trương đầu tư, hoàn thiện hạ tầng các phòng thí nghiệm dùng chung trọng điểm quốc gia, tạo điều kiện để DN tiếp cận và sử dụng. Đồng thời, tập trung phát triển Sàn giao dịch KH&CN quốc gia, tăng cường kết nối với các địa phương và quốc tế.
Phó Thủ tướng giao Bộ KH&CN xây dựng, ban hành bộ chỉ số đo lường, đánh giá hiệu quả hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường ĐH và DN, lấy dữ liệu năm 2026 làm cơ sở công bố./.