Chính sách và quản lý

Thúc đẩy nghiên cứu khoa học sinh viên: Phát triển tri thức, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp

VVH • 23/10/2026 12:54

Hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên tại Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đang có những chuyển biến đáng chú ý, không chỉ về quy mô, chất lượng nghiên cứu mà còn ở khả năng kết nối với thực tiễn. Từ gần 3.000 công trình được triển khai ở cấp cơ sở, nhiều nghiên cứu đã tiếp cận các vấn đề liên ngành, ứng dụng công nghệ hiện đại và hướng tới hình thành sản phẩm có tiềm năng chuyển giao. Đây là cơ sở để thúc đẩy mô hình đào tạo gắn với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục đại học.

Nghiên cứu khoa học sinh viên - chuyển từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội, việc đưa sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học ngay từ quá trình đào tạo có ý nghĩa đặc biệt đối với các cơ sở giáo dục đại học. Hoạt động này không chỉ giúp người học vận dụng kiến thức chuyên ngành mà còn hình thành tư duy phản biện, năng lực phát hiện vấn đề, thiết kế phương pháp nghiên cứu và phát triển các giải pháp có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.

NV9-BAI-Thúc đẩy nghiên cứu khoa học sinh viên-1
Toàn cảnh Hội nghị tổng kết và trao giải nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2026.

Những kết quả được công bố tại Hội nghị tổng kết và trao giải nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2026, tổ chức ngày 21/10/2026 cho thấy kết quả của việc lấy chất lượng nghiên cứu, năng lực sáng tạo độc lập và khả năng tạo ra giá trị thực tiễn làm những tiêu chí quan trọng trong tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của người học.

Theo báo cáo của GS. TS. Trần Thị Thanh Tú, Trưởng ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo ĐHQGHN, trong năm 2025 và nửa đầu năm 2026, các đơn vị thuộc ĐHQGHN đã triển khai gần 3.000 công trình nghiên cứu khoa học sinh viên ở cấp cơ sở. Từ số lượng này, 68 công trình tiêu biểu được lựa chọn tham gia xét giải cấp ĐHQGHN.

Sau 136 lượt phản biện kín độc lập, 54 công trình tiếp tục được tuyển chọn để trình bày và bảo vệ kết quả nghiên cứu trước ba Hội đồng chuyên môn. Trong đó, lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn có 35 công trình; khoa học công nghệ - kỹ thuật có 10 công trình; khoa học tự nhiên - y dược có 9 công trình. Các phiên đánh giá chuyên môn diễn ra trong hai ngày 19 và 20/10, trước khi tổ chức triển lãm poster, báo cáo các công trình tiêu biểu và trao giải vào ngày 21/10/2026.

Việc kết hợp lựa chọn tại cơ sở, phản biện độc lập và bảo vệ trực tiếp trước hội đồng tạo ra một quy trình kiểm tra chất lượng theo nhiều bước. Thông qua đó, sinh viên phải chứng minh tính hợp lý của câu hỏi nghiên cứu, phương pháp sử dụng, độ tin cậy của kết quả và khả năng giải thích những phát hiện khoa học.

Ở góc độ đào tạo, đây là môi trường quan trọng để người học chuyển từ tiếp nhận kiến thức sang chủ động tạo lập tri thức. Thay vì chỉ thực hiện những bài tập mang tính mô phỏng, sinh viên được tiếp cận quy trình nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh, từ xây dựng giả thuyết, thu thập dữ liệu đến phân tích, thảo luận và công bố kết quả.

Theo đánh giá của GS. TS. Trần Thị Thanh Tú, năng lực nghiên cứu của sinh viên đã có những tiến bộ rõ nét, thể hiện ở việc nhiều nhóm tham gia các hướng nghiên cứu do giảng viên triển khai và sử dụng những công cụ, phương pháp khoa học hiện đại. Một số công trình đã có kết quả công bố trên các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế, bao gồm những tạp chí thuộc nhóm Q1, Q2. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu bước đầu tạo ra sản phẩm, mô hình thử nghiệm hoặc được giới thiệu tới doanh nghiệp và các tổ chức có liên quan.

Nghiên cứu liên ngành mở rộng khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn

Một trong những đặc điểm nổi bật của các công trình nghiên cứu khoa học sinh viên ĐHQGHN năm 2026 là sự đa dạng về lĩnh vực và phương pháp tiếp cận. Nhiều đề tài không giới hạn trong phạm vi kiến thức của một ngành học mà kết hợp các công cụ khoa học, công nghệ và phương pháp phân tích để giải quyết những vấn đề có tính liên ngành.

Trong lĩnh vực công nghệ - kỹ thuật, trí tuệ nhân tạo (AI), học máy và tự động hóa tiếp tục được sinh viên quan tâm. Những công nghệ này không chỉ là đối tượng nghiên cứu mà còn trở thành công cụ hỗ trợ giải quyết các bài toán cụ thể. Chẳng hạn, nhóm sinh viên Trường Đại học Công nghệ phát triển giải pháp kết hợp hướng nhìn và chuyển động đầu để tương tác với máy tính mà không cần sử dụng tay. Nghiên cứu hướng tới hỗ trợ những người gặp khó khăn trong vận động, qua đó cho thấy khả năng vận dụng công nghệ để đáp ứng nhu cầu tiếp cận và sử dụng thiết bị số của các nhóm người dùng khác nhau.

Sinh viên Trường Quốc tế nghiên cứu cơ chế bộ nhớ và phát hiện vòng lặp nhằm cải thiện khả năng điều hướng thị giác của robot sử dụng AI. Hướng nghiên cứu này liên quan đến bài toán giúp robot nhận biết môi trường, xử lý thông tin quan sát và nâng cao khả năng vận hành trong những điều kiện phức tạp.

Đối với khoa học tự nhiên và y dược, các công trình được lựa chọn cho thấy sự quan tâm đến môi trường, biến đổi khí hậu và sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu của sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên về đánh giá dòng chảy trên lưu vực sông Ba trong điều kiện biến đổi khí hậu đã kết hợp mô hình thủy văn với phương pháp học máy. Việc kết hợp hai cách tiếp cận này hướng tới cải thiện khả năng mô phỏng, dự báo các đặc điểm tài nguyên nước, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu và quản lý.

Phương pháp học máy có thể bổ trợ cho các mô hình truyền thống thông qua việc phân tích những mối quan hệ phức tạp trong dữ liệu. Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp vẫn phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu đầu vào, lựa chọn mô hình và quy trình kiểm định. Vì vậy, giá trị của nghiên cứu không chỉ ở việc sử dụng công nghệ mới mà còn ở khả năng chứng minh tính phù hợp của phương pháp đối với bài toán cụ thể.

Ở lĩnh vực y dược, công trình của sinh viên Trường Đại học Y Dược nghiên cứu độ chính xác của nồng độ ôxy hít vào trong hỗ trợ hô hấp cho trẻ sơ sinh. Đây là vấn đề gắn với thực hành lâm sàng, đòi hỏi sự thận trọng trong thiết kế nghiên cứu, đánh giá dữ liệu và diễn giải kết quả. Sự hiện diện của các công trình thuộc lĩnh vực sức khỏe cho thấy nghiên cứu khoa học sinh viên có thể tham gia giải quyết những vấn đề chuyên môn mang ý nghĩa thực tiễn, với điều kiện được triển khai dưới sự hướng dẫn và giám sát phù hợp.

Trong khoa học xã hội và nhân văn, nhiều nhóm sinh viên lựa chọn những chủ đề gắn với sự thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội. Các hướng nghiên cứu được giới thiệu bao gồm phát triển hệ thống cá nhân hóa học tập dựa trên dữ liệu người học, ứng dụng trò chơi giáo dục nhằm nâng cao nhận thức phòng, chống mua bán người, nghiên cứu sinh kế bền vững gắn với bảo tồn di sản và bảo vệ hệ sinh thái.

Đặc biệt, nhóm sinh viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật nghiên cứu đề xuất hành lang kết nối du lịch di sản tại khu vực phía Tây Hà Nội. Công trình vận dụng phân tích không gian và hệ thống thông tin địa lý (GIS) để tiếp cận vấn đề kết nối các nguồn lực di sản trong không gian đô thị.

Ở lĩnh vực kinh tế, sinh viên Trường Đại học Kinh tế nghiên cứu vai trò của chuyển đổi số và chất lượng thể chế đối với khả năng nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Chủ đề phản ánh mối quan tâm đến những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và quá trình tham gia các hoạt động kinh tế quốc tế.

Từ những ví dụ trên có thể thấy, nghiên cứu liên ngành không đơn thuần là tập hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực. Giá trị cốt lõi nằm ở việc lựa chọn được những phương pháp phù hợp, tạo ra cách nhìn toàn diện hơn đối với các vấn đề mà một chuyên ngành riêng lẻ khó giải quyết đầy đủ. Đây cũng là cơ sở để các trường đại học xem xét tăng cường hợp tác giữa những nhóm nghiên cứu thuộc các đơn vị khác nhau, nhất là trong các lĩnh vực có nhu cầu ứng dụng công nghệ và dữ liệu.

Đề cao tính trung thực học thuật và năng lực nghiên cứu độc lập

Bên cạnh việc phát triển quy mô và chất lượng công trình, một vấn đề được lãnh đạo ĐHQGHN đặc biệt quan tâm là bảo đảm tính trung thực trong hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên. Phát biểu tại Hội nghị, PGS.TS. Bùi Thế Duy, Giám đốc ĐHQGHN nhấn mạnh nghiên cứu khoa học phải tạo điều kiện để sinh viên tự khám phá, phát triển tư duy và hình thành khả năng nghiên cứu độc lập. Theo đó, giảng viên có trách nhiệm định hướng phương pháp, hỗ trợ chuyên môn và xây dựng môi trường nghiên cứu phù hợp, thay vì thực hiện công việc thay sinh viên hoặc đặt ra yêu cầu vượt quá năng lực của người học nhằm đạt thành tích.

NV9-BAI-Thúc đẩy nghiên cứu khoa học sinh viên-2
PGS. TS. Bùi Thế Duy, Giám đốc ĐHQGHN nhấn mạnh, nghiên cứu khoa học phải tạo điều kiện để sinh viên tự khám phá, phát triển tư duy và hình thành khả năng nghiên cứu độc lập.

Thành công của một công trình không nên chỉ được đánh giá thông qua giải thưởng, số lượng bài báo hoặc mức độ phức tạp của công nghệ sử dụng, mà còn phải xét đến năng lực thực sự mà sinh viên tích lũy được trong quá trình triển khai. Đối với người học, nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và kiểm chứng tri thức. Trong quá trình đó, việc nhận diện hạn chế của phương pháp, giải thích những kết quả chưa phù hợp với giả thuyết ban đầu và công khai các điều kiện ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu đều có giá trị giáo dục.

Từ góc độ quản lý, yêu cầu trung thực học thuật đặt ra sự cần thiết phải phân định rõ trách nhiệm giữa sinh viên, giảng viên hướng dẫn và đơn vị tổ chức nghiên cứu. Sinh viên cần chịu trách nhiệm đối với phần công việc trực tiếp thực hiện, nguồn dữ liệu và kết quả trình bày. Giảng viên hướng dẫn có trách nhiệm kiểm tra tính phù hợp của phương pháp, hỗ trợ giải quyết những khó khăn chuyên môn và bảo đảm các yêu cầu về đạo đức nghiên cứu.

Đặc biệt, trong bối cảnh AI tạo sinh ngày càng được sử dụng rộng rãi, các cơ sở giáo dục đại học cần quan tâm đến việc xây dựng quy định minh bạch về phạm vi sử dụng công cụ AI trong nghiên cứu. Công nghệ có thể hỗ trợ tìm kiếm tài liệu, xử lý dữ liệu hoặc cải thiện cách trình bày, nhưng không thể thay thế trách nhiệm của người nghiên cứu đối với tính xác thực của thông tin và kết luận khoa học.

Thúc đẩy sự tham gia của các bên vào quá trình nghiên cứu khoa học của sinh viên

Kết quả xét giải nghiên cứu khoa học sinh viên ĐHQGHN năm 2026 phản ánh sự kết hợp giữa việc ghi nhận thành tích học thuật và khuyến khích phát triển các nghiên cứu có triển vọng ứng dụng. Tại Hội nghị, Ban tổ chức đã trao 4 giải Nhất, 8 giải Nhì, 18 giải Ba, 4 giải Poster ấn tượng và 3 giải Tiềm năng ứng dụng.

Bốn giải Nhất thuộc về các công trình của sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Kinh tế, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật và Trường Đại học Công nghệ. Các hướng nghiên cứu được vinh danh gồm đa hình gen liên quan đến phơi nhiễm chất da cam/dioxin; tác động của chuyển đổi số và thể chế trong thương mại thuộc chuỗi giá trị toàn cầu; xây dựng hành lang kết nối du lịch di sản; phát triển thuật toán tối ưu hóa dựa trên mô hình hướng dẫn nơ-ron động.

Đối với hạng mục Tiềm năng ứng dụng, ba công trình được trao giải liên quan đến phần mềm hỗ trợ dạy học Hóa học, giải pháp tổ chức không gian trên diện tích nhỏ tại Hà Nội và mô hình đa robot phục vụ hoạt động vận chuyển trong kho hàng. Những công trình này có cơ hội tiếp tục tham gia cuộc thi Khởi nghiệp sáng tạo công nghệ RnD to Startup.

Một định hướng đáng chú ý được PGS.TS. Bùi Thế Duy đề cập tại Hội nghị là tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức và chính quyền địa phương vào quá trình tổ chức nghiên cứu khoa học sinh viên. Theo đó, sự hợp tác không nên chỉ diễn ra ở giai đoạn tiếp nhận hoặc sử dụng kết quả, mà cần được triển khai ngay từ khi xác định vấn đề nghiên cứu. Doanh nghiệp và địa phương có thể tham gia đề xuất nhu cầu, đặt hàng những bài toán cụ thể, đồng thời hỗ trợ điều kiện thực nghiệm, trang thiết bị, nguồn lực và môi trường kiểm chứng giải pháp.

ĐHQGHN định hướng huy động các nguồn lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp nhằm hướng tới ươm tạo 50 doanh nghiệp khởi nghiệp trong năm tới. Đối tượng tham gia không chỉ giới hạn ở sinh viên mà còn bao gồm học viên cao học và nghiên cứu sinh. Để hiện thực hóa định hướng này, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần có sự kết nối giữa hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ, tư vấn sở hữu trí tuệ, hỗ trợ pháp lý, xây dựng mô hình kinh doanh và tìm kiếm thị trường.

Một trong những vấn đề quan trọng là phân loại các kết quả nghiên cứu theo mức độ sẵn sàng ứng dụng. Không phải mọi công trình có giá trị khoa học đều phù hợp để phát triển thành doanh nghiệp khởi nghiệp. Một số nghiên cứu cần tiếp tục được đầu tư theo hướng khoa học cơ bản, trong khi những nghiên cứu khác có thể được hoàn thiện để chuyển giao cho doanh nghiệp hiện hữu.

Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ để nghiên cứu khoa học sinh viên phát triển bền vững

Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo tổng kết của ĐHQGHN cũng chỉ ra một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Trong đó có sự khác biệt về điều kiện hỗ trợ nghiên cứu giữa các đơn vị, yêu cầu điều chỉnh cơ cấu hội đồng chuyên môn cho phù hợp với đặc điểm và số lượng công trình, cũng như việc thiếu cơ chế hỗ trợ tiếp nối đối với những nghiên cứu có tiềm năng.

Trên cơ sở đó, Ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo ĐHQGHN đề xuất xem xét cơ chế lựa chọn, đầu tư tiếp cho các công trình sinh viên xuất sắc, tạo điều kiện phát triển thành đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQGHN. Đồng thời, cần kết nối những nhóm nghiên cứu có triển vọng với hệ thống hỗ trợ đổi mới sáng tạo, quỹ phát triển khoa học và công nghệ và các chương trình ươm tạo khởi nghiệp.

Từ kinh nghiệm của ĐHQGHN, có thể xem xét một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học.

Trước hết, cần xây dựng cơ chế hỗ trợ nghiên cứu theo toàn bộ vòng đời của công trình. Hoạt động hỗ trợ không chỉ tập trung vào giai đoạn đăng ký, triển khai và nghiệm thu đề tài mà cần có bước đánh giá tiềm năng phát triển sau khi nghiên cứu kết thúc.

Thứ hai, tăng cường năng lực nghiên cứu và bảo đảm liêm chính học thuật. Các trường đại học cần quan tâm đào tạo phương pháp nghiên cứu, phân tích dữ liệu, kỹ năng viết báo cáo khoa học, trích dẫn tài liệu và công bố kết quả. Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm của sinh viên và giảng viên hướng dẫn, xây dựng quy định phù hợp về việc sử dụng AI và những công cụ hỗ trợ nghiên cứu.

Thứ ba, phát triển các nhóm nghiên cứu liên ngành. Những vấn đề liên quan đến môi trường, sức khỏe, chuyển đổi số, đô thị thông minh và phát triển bền vững thường đòi hỏi sự kết hợp giữa nhiều lĩnh vực chuyên môn. Việc tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các nhóm nghiên cứu đa ngành có thể góp phần nâng cao khả năng tiếp cận vấn đề và sử dụng hiệu quả nguồn lực nghiên cứu.

Thứ tư, thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên với doanh nghiệp và địa phương. Các cơ sở giáo dục đại học có thể xây dựng danh mục bài toán nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tổ chức những chương trình kết nối giữa sinh viên, giảng viên và đơn vị sử dụng kết quả. Cơ chế hợp tác cần bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu đào tạo, yêu cầu nghiên cứu và lợi ích của các bên tham gia.

Thứ năm, đổi mới tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên. Bên cạnh số lượng công trình và giải thưởng, cần quan tâm đến chất lượng phương pháp, mức độ tham gia thực chất của sinh viên, khả năng phát triển năng lực nghiên cứu và kết quả ứng dụng. Đối với những nghiên cứu có tiềm năng chuyển giao, có thể bổ sung tiêu chí về mức độ hoàn thiện công nghệ, khả năng thử nghiệm và sự quan tâm của đối tác.

Cuối cùng, phát triển hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu. Các chương trình ươm tạo cần kết nối hoạt động nghiên cứu với chuyên gia công nghệ, cố vấn kinh doanh, đơn vị tư vấn sở hữu trí tuệ và các nguồn lực hỗ trợ phát triển sản phẩm. Việc xây dựng hệ thống theo dõi kết quả sau ươm tạo cũng cần được quan tâm để đánh giá hiệu quả thực chất, thay vì chỉ dựa trên số lượng dự án tham gia hoặc doanh nghiệp được thành lập./.

VVH