KH&CN địa phương

Hoạt động hỗ trợ phát triển, thương mại hóa sáng kiến không dừng ở phát hiện, tôn vinh

Bích Việt • 18/10/2026 17:31

Hội thảo tại TP. Huế ngày 16/10/2026 tập trung nhận diện những điểm nghẽn trong phát triển, ứng dụng và thương mại hóa sáng kiến; đồng thời đề xuất cách hỗ trợ xuyên suốt, từ hoàn thiện ý tưởng, thử nghiệm công nghệ đến kết nối doanh nghiệp và thị trường.

Khơi thông con đường từ sáng kiến đến ứng dụng

Tại hội thảo “Hoạt động hỗ trợ phát triển, thương mại hóa các sáng kiến có tiềm năng ứng dụng, giá trị kinh tế - xã hội cao tại các địa phương” do Cục Đổi mới sáng tạo (ĐMST), Bộ KH&CN phối hợp với Sở KH&CN TP. Huế và Trường Đại học (ĐH) Nông Lâm, ĐH Huế tổ chức, ông Nguyễn Xuân Sơn, Giám đốc Sở KH&CN TP. Huế, nhấn mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN và ĐMST) có vai trò quan trọng trong nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

"ĐMST không chỉ hình thành trong viện nghiên cứu, trường ĐH hay doanh nghiệp công nghệ, mà còn hiện diện trong hoạt động sản xuất, lao động và đời sống thường ngày. Nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật do nông dân, công nhân, thợ cơ khí và người lao động tạo ra đã giúp giảm sức lao động, tiết kiệm chi phí, tăng năng suất và mang lại lợi ích thiết thực", ông Nguyễn Xuân Sơn cho hay.

img_0053.jpeg
Giám đốc Nguyễn Xuân Sơn: Hoạt động hỗ trợ sáng kiến cần có trọng tâm, căn cứ vào nhu cầu thực tế.

Theo đó, ông Nguyễn Xuân Sơn cho rằng nhiệm vụ đặt ra không dừng ở phát hiện, công nhận hay tôn vinh sáng kiến. Các cơ quan, đơn vị cần có cơ chế đồng hành để ý tưởng tiềm năng được kiểm chứng, hoàn thiện, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), kết nối với đơn vị tiếp nhận và từng bước đưa vào ứng dụng.

Lãnh đạo Sở cũng lưu ý việc hỗ trợ cần có trọng tâm, căn cứ vào nhu cầu thực tế, tính khả thi, hiệu quả kinh tế - xã hội và khả năng nhân rộng. Nếu sáng kiến được công nhận nhưng thiếu nguồn lực để thử nghiệm, hoàn thiện và kết nối với đơn vị ứng dụng, giá trị của sáng kiến khó được phát huy đầy đủ.

Báo cáo đề dẫn tại hội thảo, TS. Khổng Quốc Minh, đại diện Cục ĐMST tập trung phân tích vai trò của lực lượng sáng chế không chuyên trong hệ sinh thái ĐMST ở địa phương. Đây là nhóm có nhiều ý tưởng xuất phát trực tiếp từ những vấn đề trong sản xuất và đời sống, nhưng thường gặp khó khăn khi cần tiếp cận tri thức chuyên môn, kinh phí, thiết bị thử nghiệm, hỗ trợ hoàn thiện công nghệ, bảo hộ SHTT và tìm đầu ra cho sản phẩm.

img_0056.jpeg
TS. Khổng Quốc Minh: Hoạt động hỗ trợ ĐMST cần chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang hỗ trợ liên tục.

TS. Khổng Quốc Minh cho rằng, ở một số địa phương, hoạt động hỗ trợ vẫn tập trung nhiều vào hội thi, công nhận và khen thưởng, trong khi nguồn lực dành cho thử nghiệm, đánh giá chất lượng, hoàn thiện công nghệ và thương mại hóa chưa tương xứng. "Cần chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang hỗ trợ liên tục, theo sát quá trình phát triển sáng kiến từ khi hình thành ý tưởng đến khi được ứng dụng và khai thác giá trị".

Đại diện Cục ĐMST đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ; phát triển văn hóa ĐMST trong cộng đồng; tăng cường năng lực cho nhà sáng chế không chuyên; đồng thời xây dựng mạng lưới chuyên gia, trung tâm ĐMST và hạ tầng dùng chung. Trong mô hình phối hợp được đề xuất, doanh nghiệp (DN) cần tham gia sớm để nêu nhu cầu, đặt hàng giải pháp, thử nghiệm và tiếp nhận chuyển giao; viện, trường hỗ trợ chuyên môn, đo kiểm, chuẩn hóa và nâng cấp công nghệ; Nhà nước kiến tạo môi trường và hỗ trợ những khâu còn thiếu nguồn lực.

Phối hợp để sáng kiến được hoàn thiện và thương mại hóa

Tại tham luận về hoạt động sáng kiến, sáng chế và giải pháp thúc đẩy khai thác, thương mại hóa tài sản trí tuệ ở Huế, bà Trần Thị Thùy Yên, Phó Giám đốc Sở KH&CN TP. Huế nêu những kết quả đạt được cùng yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới.

img_0054.jpeg
Bà Trần Thị Thùy Yên: Sáng chế và giải pháp hữu ích vẫn cần nguồn lực để hoàn thiện công nghệ, chế tạo mẫu, thử nghiệm và kết nối DN.

Theo báo cáo tại hội thảo, từ năm 2021 đến tháng 9/2026, Huế ghi nhận 21 đơn đăng ký sáng chế, 66 đơn đăng ký giải pháp hữu ích, 29 đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp và 1.293 đơn đăng ký nhãn hiệu. Thành phố có 69 văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và 4 chỉ dẫn địa lý, góp phần bảo vệ nguồn gốc, uy tín của các sản phẩm đặc trưng như nón Huế, tinh dầu tràm Huế, Hoàng mai Huế và thanh trà Huế.

Kết quả xác lập quyền SHTT, theo bà Trần Thị Thuỳ Yên, chưa đồng nghĩa với việc sáng kiến, tài sản trí tuệ đã được khai thác hiệu quả về kinh tế. Sáng chế và giải pháp hữu ích vẫn cần nguồn lực để hoàn thiện công nghệ, chế tạo mẫu, thử nghiệm và kết nối DN. Với nhãn hiệu cộng đồng, chỉ dẫn địa lý, cần tiếp tục nâng cao năng lực quản lý, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển thương hiệu và mở rộng kênh tiêu thụ.

Sở KH&CN TP. Huế định hướng phân loại sáng kiến theo tiềm năng ứng dụng thành ba nhóm sáng kiến: phục vụ cải tiến nội bộ; có khả năng áp dụng, nhân rộng; và có tiềm năng phát triển thành giải pháp kỹ thuật, sản phẩm hoặc tài sản trí tuệ. Việc lựa chọn hỗ trợ cần căn cứ vào tính mới, hiệu quả thực tế, phạm vi áp dụng, khả năng nhân rộng và nhu cầu tiếp nhận.

Một nội dung khác được hội thảo bàn sâu là vai trò của trường ĐH, viện nghiên cứu trong ươm tạo và thương mại hóa sáng kiến. Tham luận của GS. TS. Hoàng Thị Thái Hòa, Trường ĐH Nông Lâm, ĐH Huế, chỉ ra khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và sản phẩm có khả năng tạo doanh thu. Nghiên cứu có chất lượng chưa chắc trở thành sản phẩm được thị trường đón nhận nếu thiếu sự tham gia của DN ngay từ đầu, nguồn lực phát triển nguyên mẫu, thử nghiệm thực tế, bảo hộ SHTT và phương án kinh doanh phù hợp.

img_0057.jpeg
Đại diện Sở KH&CN các tỉnh, thành phố tham dự trực tiếp tại Huế và qua 33 điểm cầu trực tuyến.

Để thu hẹp khoảng cách này, tham luận đề xuất tổ chức quá trình phát triển sáng kiến theo ba giai đoạn liên tục: ươm tạo ý tưởng, hoàn thiện công nghệ và thương mại hóa. Ở giai đoạn đầu, cần sàng lọc ý tưởng, đánh giá nhu cầu, xác định khách hàng và xây dựng mô hình kinh doanh sơ bộ. Khi hoàn thiện công nghệ, cần phát triển nguyên mẫu, tối ưu quy trình, kiểm chứng hiệu quả, đánh giá chi phí và chất lượng. Giai đoạn thương mại hóa hướng đến bảo hộ tài sản trí tuệ, lựa chọn phương thức chuyển giao, tìm đối tác sản xuất và tiếp cận thị trường.

ĐH Huế, các trường và viện có thể cung cấp chuyên gia, hỗ trợ thử nghiệm và kiểm chứng công nghệ; DN cần tham gia với tư cách đối tác, cung cấp nhu cầu thực tế, phối hợp thử nghiệm và tiếp nhận chuyển giao. Tham luận cũng đề xuất xây dựng danh mục công nghệ tiềm năng, tận dụng phòng thí nghiệm, trang trại và cơ sở sản xuất để thử nghiệm; chuyên nghiệp hóa việc định giá, xây dựng hồ sơ công nghệ, đàm phán chuyển giao và quản trị rủi ro. Hiệu quả cần được nhìn từ kết quả ứng dụng, doanh nghiệp tiếp nhận, doanh thu, năng suất và tác động xã hội, thay vì chỉ đếm đề tài hay công bố khoa học.

Tại hội thảo, đại diện Sở KH&CN tỉnh Lai Châu, DN tư nhân Bạch Lai và Công ty TNHH MTV Hữu cơ Huế Việt cũng chia sẻ kinh nghiệm triển khai sáng kiến tại địa phương, DN; trao đổi về thuận lợi, khó khăn trong quá trình ứng dụng và khai thác giá trị sáng kiến. Các mô hình sản phẩm như máy ép củi trấu, máy sấy nông sản, thực phẩm và trà sen cho thấy vai trò của DN trong việc đưa giải pháp kỹ thuật thành sản phẩm phục vụ thị trường.

Tổng kết hội thảo, ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục ĐMST, nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ khuyến khích, tôn vinh sang hỗ trợ phát triển và khai thác sáng kiến trong thực tiễn. Theo ông, cần lựa chọn sáng kiến có tiềm năng, xác định rõ nhu cầu ứng dụng và xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp với từng giai đoạn, từ hoàn thiện ý tưởng, thử nghiệm, đánh giá hiệu quả đến chuyển giao, thương mại hóa.

img_0055.jpeg
Ông Chu Thúc Đạt: Cần lựa chọn sáng kiến có tiềm năng, xác định rõ nhu cầu ứng dụng và xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp với từng giai đoạn.

Ông Chu Thúc Đạt đồng thời đề nghị phát huy đúng vai trò của từng chủ thể: cơ quan quản lý hoàn thiện cơ chế, chính sách; viện nghiên cứu, trường ĐH hỗ trợ chuyên môn và công nghệ; DN tham gia đặt hàng, tiếp nhận, ứng dụng giải pháp vào sản xuất, kinh doanh./.

Bích Việt