Làm chủ giống tôm hùm: Từ nghiên cứu đến sản xuất
Hội thảo tại Khánh Hòa tập trung nhận diện những nút thắt trong sản xuất giống tôm hùm và tôm nước lợ, đồng thời kết nối cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp trong nước và đối tác quốc tế để xác định hướng nghiên cứu, hợp tác.
Ngày 18/10, Bộ KH&CN, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Tập đoàn Việt Úc tổ chức Hội thảo “Nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển và chọn giống tôm nước lợ tại Việt Nam”. Hội thảo có sự tham dự của đại diện các bộ, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và chuyên gia quốc tế.
Tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân đề nghị các đơn vị thuộc Bộ phối hợp với Tập đoàn Việt Úc, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu trong khoảng 3 - 5 năm, xác định rõ nội dung và đơn vị thực hiện. Các bên cần hoàn thành đề xuất trong khoảng 1 - 2 tháng để Bộ tổ chức thẩm định, xem xét khả năng hỗ trợ.

Theo Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân, nhiệm vụ cần tập trung vào sản phẩm cụ thể, làm rõ phần việc nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa. Bộ KH&CN sẽ ưu tiên hỗ trợ khâu nghiên cứu, phát triển có rủi ro cao; đồng thời có thể xem xét đầu tư thiết bị cho phòng thí nghiệm và cơ sở nghiên cứu. Bộ trưởng Vũ Hải Quân lưu ý, phát triển giống tôm hùm cần được đặt trong chương trình dài hạn, gắn với các khâu thức ăn, vùng nuôi, phòng bệnh, chế biến và thị trường.
Tính cấp thiết của hướng nghiên cứu này được đặt ra từ nhu cầu lớn về con giống và mức độ phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Theo thông tin tại hội thảo, nhu cầu giống tôm nước lợ của Việt Nam khoảng 150 - 160 tỷ con mỗi năm. Việt Nam đã có kết quả nghiên cứu, chọn tạo giống tôm sú và tôm thẻ chân trắng, nhưng năng lực chủ động nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao vẫn cần được nâng lên. Với tôm hùm, nguồn giống phục vụ nuôi thương phẩm hiện phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và nhập khẩu.
Các nghiên cứu trong nước đã đạt kết quả ở một số công đoạn như nuôi vỗ tôm hùm bố mẹ, sinh sản và ương nuôi ấu trùng. Tuy nhiên, quy trình sản xuất con giống nhân tạo chưa hoàn thiện. Những vấn đề cần tiếp tục giải quyết gồm dinh dưỡng cho ấu trùng, kiểm soát môi trường, hệ thống ương và quá trình chuyển sang giai đoạn con giống.

Tại hội thảo, các chuyên gia của Cơ quan Khoa học Quốc gia Australia, chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu đa ngành, xây dựng năng lực và kết nối nguồn lực phát triển công nghệ thủy sản. Doanh nghiệp Ornatas của Australia giới thiệu kết quả nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi tôm hùm, cùng những yêu cầu về kỹ thuật, chi phí và hiệu quả khi mở rộng sản xuất.
Tập đoàn Việt Úc trình bày hướng kế thừa dữ liệu, tri thức và kinh nghiệm từ chương trình chọn giống tôm thẻ chân trắng để hỗ trợ nghiên cứu di truyền tôm hùm bông. Một số kết quả so sánh hệ gene bước đầu gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo, song cần được kiểm chứng trước khi đánh giá khả năng ứng dụng.
Các tham luận cũng nhấn mạnh yêu cầu gắn nghiên cứu với chuyển giao và đào tạo. Đại học Cần Thơ đề cập việc nâng cao chất lượng giống gắn với kết nối nghiên cứu và sản xuất. Đại diện Đắk Lắk đề xuất lựa chọn cơ sở thử nghiệm phù hợp về hạ tầng, nguồn nước, nhân lực và an toàn sinh học; Quảng Ngãi kiến nghị đánh giá chất lượng giống trong điều kiện nuôi thực tế, với sự tham gia của cơ sở sản xuất và người nuôi.
Các ý kiến tại hội thảo cho thấy, để tiến tới chủ động giống tôm hùm, cần phối hợp đồng bộ từ nghiên cứu, thử nghiệm đến tổ chức sản xuất; lựa chọn cơ sở thử nghiệm phù hợp và xác định rõ vai trò của từng bên. Đây cũng là cơ sở để xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu có mục tiêu, thời hạn và đầu mối thực hiện cụ thể./.