Kinh tế sinh học Việt Nam: Thách thức đo lường và bài toán thương mại hóa
Kinh tế sinh học mở ra hướng phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và khai thác hiệu quả các nguồn lực sinh học. Tuy nhiên, để lĩnh vực này trở thành động lực tăng trưởng, Việt Nam không chỉ cần những công nghệ có giá trị khoa học mà còn phải xác định được quy mô đóng góp kinh tế, hoàn thiện cơ chế chuyển giao và tạo điều kiện để doanh nghiệp (DN) đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Đây là những vấn đề trọng tâm được đặt ra tại Hội thảo “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số”, do Hội Thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) Việt Nam (VASTI) phối hợp với Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (Bộ KH&CN) tổ chức ngày 15/10/2026.

Xác định đúng phạm vi để đo lường đóng góp của kinh tế sinh học
Theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ, công nghệ sinh học (CNSH) và y sinh tiên tiến được xác định là 1 trong 10 công nghệ chiến lược. Đến năm 2045, ngành công nghiệp sinh học được đặt mục tiêu đóng góp từ 10% đến 15% vào tổng sản phẩm trong nước (GDP).
Để hiện thực hóa định hướng này, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển năng lực nghiên cứu, mà còn phải hình thành được chuỗi liên kết từ xác định bài toán thực tiễn, phát triển công nghệ, thử nghiệm sản phẩm đến huy động vốn và tổ chức sản xuất, kinh doanh. Những vấn đề về đo lường quy mô kinh tế sinh học, định giá tài sản trí tuệ, phân chia rủi ro và kết nối cung - cầu công nghệ, vì vậy, cần được giải quyết đồng bộ.
Một trong những điều kiện nền tảng để xây dựng chính sách phát triển kinh tế sinh học là thống nhất cách nhận diện và đo lường lĩnh vực này. Nếu chưa xác định rõ phạm vi CNSH, công nghiệp sinh học và các hoạt động kinh tế có liên quan, việc đánh giá quy mô thị trường cũng như xác lập mục tiêu đóng góp GDP sẽ gặp khó khăn.
Tại hội thảo, ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng phòng Thống kê KH&CN, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học, cho rằng cách định nghĩa CNSH có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi thống kê công nghiệp CNSH và rộng hơn là kinh tế sinh học. Sự khác biệt trong cách tiếp cận khái niệm cũng là một nguyên nhân khiến kết quả thống kê giữa các quốc gia chưa đồng nhất.

Ông Bùi Duy Nghĩa cũng cho rằng phạm vi đo lường có thể tạo ra chênh lệch rất lớn về quy mô đóng góp kinh tế. Tại New Zealand, nếu chỉ tính CNSH cốt lõi, tỷ trọng được xác định ở mức 0,1%; trong khi đo lường theo phạm vi kinh tế sinh học, con số lên tới 17%. Sự khác biệt này cho thấy việc chỉ thống kê các hoạt động nghiên cứu, phát triển và sản xuất trực tiếp ứng dụng CNSH có thể chưa phản ánh đầy đủ giá trị kinh tế được tạo ra trong các ngành, lĩnh vực liên quan.
Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, nhóm nghiên cứu đề xuất ba mức độ đo lường, gồm: CNSH, công nghiệp CNSH và kinh tế sinh học.
Thông qua đó, ông Bùi Duy Nghĩa cho biết phương pháp thử nghiệm xác định tỷ trọng sinh học thông qua giá trị gia tăng, dựa trên Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (VSIC) đã được xây dựng. Theo phương pháp, các hoạt động thuộc CNSH cốt lõi được tính 100% giá trị. Đối với những hoạt động như sản xuất máy móc phục vụ bảo quản hoặc đưa sản phẩm ra thị trường, hệ số tính toán được xác định tương ứng với phần đóng góp của tài sản trí tuệ và thương hiệu.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu phân biệt giữa giá trị trực tiếp do CNSH tạo ra và giá trị đóng góp của các hoạt động hỗ trợ. Đây là cơ sở quan trọng để tránh đồng nhất quy mô CNSH cốt lõi với toàn bộ nền kinh tế sinh học, đồng thời giúp việc đánh giá đóng góp kinh tế có căn cứ rõ ràng hơn.
Mở rộng ứng dụng công nghệ sinh học trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Bên cạnh việc xác định phạm vi và quy mô kinh tế sinh học, khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả đầu tư cho KH&CN.
Theo PGS.TS. Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam (VAST), một số nhóm CNSH đã được nghiên cứu và có khả năng chuyển giao, phục vụ các nhu cầu trong nông nghiệp, môi trường và công tác giám định. Việc này có thể kể đến phế phẩm vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp, xử lý ô nhiễm môi trường và công nghệ giám định ADN hài cốt liệt sĩ NGS-SNP.

Cùng với đó, cơ sở dữ liệu gen liên quan đến các bệnh lý đặc trưng của người Việt Nam được nghiên cứu là có tiềm năng chuyển giao cho DN trong nước phục vụ các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, việc khai thác nguồn dữ liệu này cần đi kèm các biện pháp bảo đảm an ninh dữ liệu và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT).
Từ các hướng ứng dụng nêu trên, những lĩnh vực được ưu tiên nghiên cứu và phát triển (R&D) trong giai đoạn tới, gồm: CNSH trong nông nghiệp và thủy sản, chế phẩm vi sinh, vaccine, giống chính xác, y dược và chăm sóc sức khỏe. Việc kết hợp CNSH với dữ liệu lớn, công nghệ omics và AI được kỳ vọng rút ngắn thời gian R&D, đẩy nhanh quá trình xác định nguyên nhân gây bệnh, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý dữ liệu nguồn gen.
Chuyển từ chuyển giao quy trình sang phát triển sản phẩm có thị trường
Từ kinh nghiệm đưa kết quả nghiên cứu vào DN, PGS. TS. Nguyễn Minh Tân, Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội, nhấn mạnh mục tiêu cuối cùng không nên chỉ là chuyển giao công nghệ, mà phải hướng tới tạo ra sản phẩm có khách hàng và đơn hàng thực tế.

Theo PGS. TS. Nguyễn Minh Tân, nhiều DN lựa chọn đầu tư máy móc, xây dựng nhà xưởng và hoàn thiện sản phẩm trước khi tìm kiếm khách hàng. Cách tiếp cận này tiềm ẩn rủi ro nếu sản phẩm không đáp ứng nhu cầu thị trường, bởi chi phí điều chỉnh có thể lớn, thậm chí dẫn đến thất bại của dự án.
Để hạn chế rủi ro, theo PGS. TS. Nguyễn Minh Tân, cần tận dụng hệ thống sẵn có để trao đổi và sản xuất thử nghiệm, dùng sản phẩm thử để khảo sát thị trường, từ đó phát triển giải pháp phù hợp với nhu cầu của từng khách hàng trước khi DN quyết định đầu tư triển khai. Cách tiếp cận này đặt nhu cầu thị trường vào sớm hơn trong chuỗi phát triển công nghệ.
Tuy nhiên, việc có khách hàng chấp nhận mẫu thử chưa đủ để khẳng định một công nghệ đã sẵn sàng được thương mại hóa trên quy mô lớn. Theo PGS.TS. Nguyễn Minh Tân, sản phẩm cần vượt qua 4 bước kiểm chứng: chất lượng, thị trường, các chỉ số kinh tế và khả năng mở rộng quy mô. Đây là những điều kiện giúp phân biệt giữa một kết quả thử nghiệm có triển vọng và một phương án sản xuất, kinh doanh có khả năng duy trì.
Thẩm định công nghệ và mô hình kinh doanh là điều kiện thu hút đầu tư
Từ góc độ nhà đầu tư, TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Công ty TNHH KH&CN quốc tế Innogenex, cho rằng khả năng thương mại hóa CNSH phụ thuộc vào việc nhà sáng lập hiểu rõ nhu cầu của nhà đầu tư, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ thẩm định và lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp.

TS. Nguyễn Lê Thu Hà đề xuất ba giải pháp dành cho các nhà sáng lập để đưa sản phẩm CNSH ra thị trường:
Thứ nhất, công nghệ cần được phát triển thành giải pháp đáp ứng nhu cầu của khách hàng, thay vì chỉ giới hạn ở một sản phẩm đơn lẻ.
Thứ hai, công tác thẩm định trước đầu tư (due diligence) cần được chuẩn bị kỹ lưỡng.
Thứ ba, mô hình kinh doanh cần được điều chỉnh linh hoạt để tạo ra giá trị thực cho khách hàng cuối cùng.
Hoàn thiện hệ sinh thái trung gian để kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp
Những khó khăn trong định giá tài sản trí tuệ, khác biệt về kỳ vọng, cơ chế và thủ tục, cũng như hạn chế về niềm tin tiếp tục là các rào cản đối với hợp tác giữa nhà khoa học và DN.

Theo bà Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch VASTI, việc tháo gỡ những rào cản này cần được đặt trong một hệ sinh thái có sự tham gia của năm nhóm thành phần: tổ chức trung gian, bên cung công nghệ, bên cầu công nghệ, cộng đồng và đối tác quốc tế, cùng Nhà nước và các cơ quan hoạch định chính sách.
.jpg)
Vai trò của tổ chức trung gian đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhà khoa học và DN có cách tiếp cận khác nhau đối với công nghệ. Nhà khoa học thường quan tâm đến kết quả nghiên cứu và khả năng phát triển chuyên môn, trong khi DN phải cân nhắc nhu cầu khách hàng, chi phí, hiệu quả đầu tư và rủi ro kinh doanh.
"Nếu thiếu một cơ chế kết nối đủ năng lực, việc xác định giá trị công nghệ và thống nhất điều kiện hợp tác có thể kéo dài, làm giảm cơ hội đưa sản phẩm ra thị trường", bà Lê Thị Khánh Vân cho hay/.