Truyền thông

Đưa dược liệu vùng cao vào chuỗi giá trị

Bích Việt • 10/10/2026 13:46

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sở hữu nhiều nguồn dược liệu quý, nhưng phần lớn sản phẩm vẫn được tiêu thụ dưới dạng thô. Muốn biến tiềm năng thành sinh kế bền vững, chuỗi giá trị dược liệu phải được hình thành từ nghiên cứu giống, chuẩn hóa vùng trồng đến chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

Tiềm năng lớn, giá trị còn thấp

Với sự đa dạng về khí hậu, thổ nhưỡng và hệ sinh thái rừng, nhiều địa phương miền núi có điều kiện thuận lợi để phát triển các loại cây dược liệu đặc hữu, quý hiếm. Đây không chỉ là nguồn nguyên liệu cho ngành y, dược cổ truyền mà còn mở ra hướng chuyển đổi sinh kế cho người dân tại những khu vực khó phát triển nông nghiệp quy mô lớn.

Giá trị của dược liệu vùng cao còn được tạo nên bởi tri thức bản địa. Qua nhiều thế hệ, đồng bào dân tộc thiểu số đã tích lũy kinh nghiệm nhận biết, gây trồng, thu hái và sử dụng cây thuốc. Tuy nhiên, nguồn tri thức này chưa được nghiên cứu, chuẩn hóa và khai thác tương xứng. Một số loại cây quý có nguy cơ suy giảm nếu bị khai thác tự phát, trong khi việc bảo tồn nguồn gen và phát triển vùng trồng thay thế chưa theo kịp nhu cầu thị trường.

Điểm nghẽn lớn hơn nằm ở cách tổ chức sản xuất. Tại không ít địa phương, dược liệu vẫn được trồng trên diện tích nhỏ, phân tán theo từng hộ; giống, quy trình chăm sóc và thời điểm thu hái chưa thống nhất. Khi không có hợp đồng tiêu thụ ổn định, người dân dễ mở rộng diện tích lúc giá tăng rồi thu hẹp sản xuất khi thị trường giảm. Sản phẩm sau thu hoạch chủ yếu được phơi, sấy hoặc sơ chế đơn giản trước khi bán cho thương lái nên phần lớn giá trị gia tăng nằm ngoài vùng nguyên liệu.

Lào Cai hiện có 37 doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia thu mua, sơ chế và chế biến dược liệu. Từ nguồn nguyên liệu tại địa phương đã hình thành các sản phẩm như cao atiso, cao đương quy, trà túi lọc, thuốc tắm, xà phòng thảo dược và tinh dầu. Dù vậy, một lượng đáng kể dược liệu vẫn được sơ chế rồi bán cho doanh nghiệp dược hoặc tiêu thụ trên thị trường tự do. Khoảng cách giữa lợi thế nguyên liệu với sản phẩm có giá trị cao vẫn phụ thuộc vào công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng liên kết thị trường.

img_7260.jpg
Đưa dược liệu vào chuỗi giá trị là quá trình dài, đòi hỏi sự liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân.

Lai Châu cũng đang phát triển sâm và các loại dược liệu dưới tán rừng. Đến tháng 9/2026, diện tích sâm Lai Châu được cấp mã số cơ sở trồng đạt gần 150 ha; trong đó, doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư trên 79 ha. Vùng nguyên liệu đang từng bước hình thành, nhưng để cây sâm trở thành ngành hàng có sức cạnh tranh, địa phương còn phải giải quyết đồng thời bài toán giống, tiêu chuẩn, chế biến và thị trường.

Thực tế này cho thấy mở rộng diện tích chưa đủ để tạo sinh kế bền vững. Nếu người dân chỉ tham gia khâu trồng và bán nguyên liệu, thu nhập vẫn phụ thuộc vào biến động giá. Giá trị dược liệu chỉ được giữ lại tại địa phương khi vùng trồng được kết nối với sơ chế, chế biến, xây dựng thương hiệu và hệ thống phân phối.

Khoa học, công nghệ mở đường cho dược liệu tăng giá trị

Khác với nhiều loại nông sản thông thường, chất lượng dược liệu được quyết định bởi nguồn giống, điều kiện sinh thái, quy trình canh tác, thời điểm thu hái, phương pháp bảo quản và hàm lượng hoạt chất. Cùng một loại cây nhưng được trồng ở vùng sinh thái khác nhau hoặc thu hái không đúng thời điểm có thể tạo ra nguyên liệu với chất lượng khác biệt.

Khoa học và công nghệ vì vậy phải tham gia ngay từ đầu chuỗi. Trước hết là điều tra, đánh giá và bảo tồn nguồn gen; tuyển chọn, nhân giống những cây có năng suất, hàm lượng hoạt chất và khả năng thích nghi tốt. Tiếp đó là xây dựng quy trình trồng, chăm sóc, thu hái phù hợp với từng vùng sinh thái; kiểm soát đất, nước, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật để bảo đảm chất lượng nguyên liệu.

Ở khâu sau thu hoạch, công nghệ sấy, chiết xuất, cô đặc và bảo quản quyết định khả năng giữ lại hoạt chất và nâng giá trị sản phẩm. Thay vì chỉ bán củ, lá hoặc thân cây đã phơi khô, vùng nguyên liệu có thể cung cấp cao dược liệu, tinh dầu, trà thảo dược, mỹ phẩm hoặc nguyên liệu đạt chuẩn cho sản xuất thuốc. Mỗi bước chế biến sâu đều tạo thêm giá trị, việc làm và cơ hội để người dân tham gia vào những công đoạn có thu nhập cao hơn.

Sâm Lai Châu là một trường hợp cho thấy vai trò ngày càng rõ của khoa học và công nghệ. Thông tin công bố tại hội thảo khoa học ngày 19/9/2026 cho thấy loại sâm này có thành phần hóa học đa dạng với 52 loại saponin; phần thân rễ chứa hàm lượng saponin MR2 tương đối cao. Nhiều diện tích đã áp dụng quy trình thực hành tốt trồng trọt và thu hái dược liệu của Tổ chức Y tế thế giới cùng tiêu chuẩn hữu cơ. Địa phương cũng đang thực hiện các thủ tục về bảo hộ thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và bổ sung sâm Lai Châu vào chuyên luận sâm Việt Nam trong Dược điển Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định cho biết, Bộ sẽ đồng hành cùng Lai Châu trong nghiên cứu nguồn gen, điều kiện sinh trưởng, quy trình trồng, chăm sóc, thu hoạch, sơ chế và bảo quản sâm. Một nhiệm vụ quan trọng khác là hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, phương pháp kiểm định và xác nhận nguồn gốc; xây dựng hệ thống truy xuất đồng bộ, minh bạch để bảo vệ thương hiệu và kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Truy xuất nguồn gốc đặc biệt cần thiết đối với dược liệu có giá trị cao. Mã số vùng trồng, nhật ký điện tử và cơ sở dữ liệu về giống, quá trình chăm sóc, thu hái, sơ chế giúp cơ quan quản lý kiểm soát chất lượng, đồng thời hạn chế hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc. Người tiêu dùng có thể kiểm tra thông tin sản phẩm, còn doanh nghiệp có cơ sở lựa chọn vùng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu sản xuất.

Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ không thể chỉ dừng ở việc dán mã QR lên bao bì. Dữ liệu phải được hình thành từ vùng trồng, cập nhật trong suốt quá trình sản xuất và gắn với hoạt động kiểm nghiệm. Nếu thông tin chỉ do cơ sở kinh doanh tự khai báo mà thiếu cơ chế kiểm tra, truy xuất nguồn gốc khó tạo được niềm tin thực chất.

Không để người dân chỉ bán nguyên liệu

Quyết định số 1102/QĐ-BYT ngày 21/4/2026 của Bộ Y tế đặt phát triển vùng trồng dược liệu quý, dược liệu có giá trị kinh tế trong tổng thể Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035. Nội dung hỗ trợ trải rộng từ phát triển giống, chuyển giao khoa học và công nghệ đến đào tạo nghề, sơ chế, chế biến, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và truy xuất nguồn gốc. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là có thêm vùng trồng mà phải tạo thu nhập ổn định cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Để chính sách đi vào thực tế, mỗi vùng dược liệu cần được tổ chức như một chuỗi sản xuất có đầu ra xác định. Doanh nghiệp phải tham gia từ khâu lựa chọn giống, hướng dẫn kỹ thuật và kiểm soát chất lượng, thay vì chỉ xuất hiện khi thu mua. Hợp tác xã giữ vai trò tập hợp các hộ, xây dựng vùng nguyên liệu đủ lớn, thống nhất quy trình và đại diện ký kết hợp đồng. Nhà khoa học giải quyết các yêu cầu về nguồn gen, hoạt chất, quy trình sản xuất và công nghệ chế biến.

Ngày 11/8/2026, Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai ban hành Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND quy định một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển dược liệu. Doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở chế biến đáp ứng điều kiện được hỗ trợ một lần tối đa 50% kinh phí đầu tư máy móc, dây chuyền và thiết bị chế biến, nhưng không quá 10 tỷ đồng cho mỗi dự án. Chính sách này hướng nguồn lực vào khâu chế biến - mắt xích còn yếu nhưng có khả năng tạo ra phần lớn giá trị gia tăng của ngành dược liệu.

Tại bản Ngài Thầu, xã Sì Lở Lầu, tỉnh Lai Châu, mô hình trồng sâm được triển khai với sự tham gia của Bộ đội Biên phòng, doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu và người dân. Bản có 54 hộ với 267 nhân khẩu, nằm ở độ cao trên 1.600m, có điều kiện tự nhiên phù hợp với sự sinh trưởng của sâm Lai Châu.

Người dân đã tự nguyện tham gia, ký cam kết, đóng góp ngày công để chuẩn bị mái che và luống trồng. Sau khi xuống giống, các hộ sẽ trực tiếp chăm sóc, bảo vệ vườn sâm dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của đơn vị chuyên môn. Mô hình hướng đến tạo sinh kế, đồng thời gắn lợi ích của cộng đồng với bảo vệ rừng và giữ vững địa bàn biên giới.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà đề nghị việc phát triển sâm phải tạo thêm sinh kế, nâng cao thu nhập cho đồng bào vùng cao; đồng thời gắn với bảo vệ rừng, phát triển kinh tế dưới tán rừng và bảo tồn nguồn gen. Yêu cầu này cũng phù hợp với định hướng chung đối với các vùng dược liệu quý: bảo tồn không tách rời khai thác, nhưng khai thác phải dựa trên cơ sở khoa học và giới hạn sinh thái.

Cùng với hỗ trợ sản xuất, cần có cơ chế phân chia lợi ích hợp lý. Người dân là chủ thể trực tiếp chăm sóc vùng trồng và bảo vệ nguồn gen nhưng thường chịu nhiều rủi ro nhất khi cây dược liệu có chu kỳ dài, vốn đầu tư lớn và thị trường biến động. Hợp đồng liên kết phải quy định rõ tiêu chuẩn nguyên liệu, phương thức xác định giá, trách nhiệm thu mua và xử lý rủi ro, tránh tình trạng doanh nghiệp chỉ mua khi giá thị trường có lợi.

Phát triển dược liệu vùng cao cũng không đồng nghĩa với chạy theo một số cây đang có giá cao. Mỗi địa phương phải đánh giá điều kiện sinh thái, nhu cầu thị trường và khả năng chế biến trước khi mở rộng diện tích. Nếu quy hoạch vùng trồng không gắn với nhà máy, tiêu chuẩn và hợp đồng tiêu thụ, nguy cơ cung vượt cầu và tái diễn tình trạng “trồng rồi chặt” hoàn toàn có thể xảy ra.

Đưa dược liệu vào chuỗi giá trị là quá trình dài, đòi hỏi sự liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. Khi khoa học và công nghệ giúp chuẩn hóa vùng trồng, kiểm soát chất lượng, chế biến sâu và xác lập thương hiệu, cây thuốc bản địa mới có thể trở thành sản phẩm hàng hóa có giá trị cao. Quan trọng hơn, người dân vùng cao không chỉ cung cấp nguyên liệu mà được tham gia và hưởng lợi công bằng hơn từ toàn bộ chuỗi sản xuất./.

Bích Việt