Hợp tác “ba nhà” mở hướng phát triển công nghiệp bán dẫn
Việt Nam có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu, nhưng để tận dụng cơ hội, cần giải quyết những hạn chế trong liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.
Ngày 8/10/2026, tại TP. Đà Nẵng, Cục Công nghiệp công nghệ thông tin (CNTT), Vụ Pháp chế (Bộ KH&CN) phối hợp với Sở KH&CN TP. Đà Nẵng và Đại học (ĐH) Đà Nẵng tổ chức hội thảo “Hợp tác ba nhà trong thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp bán dẫn tại Việt Nam”.

Tham dự hội thảo có đại diện cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, viện nghiên cứu, trường ĐH và doanh nghiệp (DN) trong lĩnh vực bán dẫn.
Gắn kết từ nhu cầu của doanh nghiệp
Theo những ý kiến được các đại biểu chia sẻ tại hội thảo, hoạt động của ngành bán dẫn hiện vẫn tập trung nhiều ở các khâu gia công, đóng gói và kiểm thử. Trong khi đó, sự kết nối giữa DN với cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu chưa đủ chặt để hình thành sản phẩm và năng lực công nghệ có giá trị cao hơn.
Tiếp đó là nhu cầu thực tế của DN chưa được chuyển hóa đầy đủ thành bài toán đào tạo. Một số cơ sở đào tạo còn thiếu môi trường thực hành sát với sản xuất, sinh viên cần được trang bị thêm kỹ năng đo kiểm vi mạch theo chuẩn công nghiệp. Hạ tầng phòng thí nghiệm còn phân tán, có nguy cơ trùng lặp thiết bị, trong khi chi phí đầu tư và vận hành lớn.
Các đại biểu cũng đề cập những vướng mắc về cơ chế sử dụng tài sản, chia sẻ chi phí, sở hữu trí tuệ (SHTT) và phân chia lợi ích thương mại. Đây là những vấn đề cần được làm rõ để trường ĐH, viện nghiên cứu và DN có thể cùng đầu tư, khai thác hạ tầng, đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghiệp CNTT nhấn mạnh: Nhà nước có vai trò xây dựng thể chế, hỗ trợ hạ tầng dùng chung và tháo gỡ vướng mắc; nhà trường, viện nghiên cứu đào tạo nhân lực, tạo ra tri thức và công nghệ; còn DN xác định bài toán sản phẩm, tham gia đầu tư và đưa kết quả ra thị trường.
“Ba bên phải cùng tham gia từ khi xác định nhiệm vụ, thống nhất nguồn lực, đến thử nghiệm và đánh giá kết quả”, ông Nguyễn Khắc Lịch khẳng định.

Cũng theo ông Nguyễn Khắc Lịch, hợp tác "ba bên" cần xuất phát từ bài toán sản phẩm có DN dẫn dắt, ưu tiên khai thác hạ tầng hiện có trước khi đầu tư mới và gắn đào tạo với công việc thực tế. Cơ chế chia sẻ nguồn lực, rủi ro và lợi ích cũng cần được xác định ngay từ đầu.
Một giải pháp cũng được đề cập tại hội thảo là mở rộng khả năng tiếp cận công cụ thiết kế vi mạch. Cục Công nghiệp CNTT đã tiếp nhận tài trợ công cụ thiết kế điện tử (EDA), trong đó có 300 giấy phép đầy đủ tính năng từ Siemens, để cung cấp miễn phí cho các trường và DN khởi nghiệp. Việc dùng chung công cụ có thể hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, đồng thời giúp giảm chi phí tiếp cận ban đầu.
Ở góc độ DN, ông Lê Quang Đạm, Tổng Giám đốc Công ty TNHH công nghệ Marvell Việt Nam đã chia sẻ về cơ hội và yêu cầu đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh ngành bán dẫn gắn kết ngày càng chặt với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI). Các vấn đề về chất lượng nhân lực, quyền SHTT và phương thức đào tạo cũng được đặt ra trong thảo luận.
Đà Nẵng hướng tới những nhiệm vụ cụ thể
Từ góc độ địa phương, ông Lê Sơn Phong, Phó Giám đốc Sở KH&CN TP. Đà Nẵng, cho biết TP đang từng bước hoàn thiện hệ sinh thái về hạ tầng, nhân lực, DN, nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là một trong những yếu tố trọng tâm để thúc đẩy ngành bán dẫn và AI.
TP. Đà Nẵng đã ban hành Nghị quyết số 21/2026/NQ-HĐND ngày 29/05/2026 quy định chính sách phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực vi mạch bán dẫn, AI trên địa bàn TP. Chính sách này nhằm thu hút chuyên gia, nhà khoa học và phát triển nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ trọng điểm, đồng thời tăng cường kết nối giữa đội ngũ chuyên gia, cơ sở đào tạo và DN.
Tại hội thảo, các đại biểu nhấn mạnh việc đào tạo cần gắn với nhu cầu tuyển dụng và vị trí việc làm cụ thể. DN cần tham gia sớm vào quá trình xây dựng chương trình, hướng dẫn thực hành và đánh giá năng lực; trường ĐH cần tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận công cụ, thiết bị và quy trình làm việc thực tế. Các hạng mục đầu tư lớn như phòng thí nghiệm, cơ chế chia sẻ và khai thác chung được xem là một hướng sử dụng nguồn lực hiệu quả./.