Đưa khoa học từ tri thức đến hành động, từ phòng thí nghiệm đến thị trường
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi những thành tựu trong phòng thí nghiệm được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và giải pháp phục vụ nền kinh tế, xã hội. Để làm được điều đó, Việt Nam cần một hệ sinh thái trong đó Nhà nước kiến tạo, nhà khoa học sáng tạo, nhà trường đào tạo và doanh nghiệp đặt hàng, đầu tư, đưa kết quả nghiên cứu vào thị trường.
Đây cũng là tinh thần nổi bật được đặt ra tại Hội nghị “Khoa học và Công nghệ để phát triển bền vững”, khai mạc sáng 7/10/2026 tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE), phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai.
Hội nghị do Hội Khoa học Gặp gỡ Việt Nam, ICISE phối hợp UBND tỉnh Gia Lai tổ chức, dưới sự bảo trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ, nhà ngoại giao và nhà hoạch định chính sách trong nước, quốc tế.
Không có khoa học cơ bản mạnh, khó có công nghệ lõi
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và phát triển đất nước nhanh, bền vững. Nghị quyết đồng thời đặt doanh nghiệp (DN) và người dân ở vị trí trung tâm, nhà khoa học là nhân tố then chốt, Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, kiến tạo.
Từ định hướng đó, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là Việt Nam có thể tạo ra bao nhiêu công trình nghiên cứu, mà quan trọng hơn là những tri thức ấy có thể giải quyết những bài toán lớn nào của đất nước.
Phát biểu tại hội nghị, PGS. TS. Trần Trung Tính, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Trung Tính nhấn mạnh yêu cầu, trước hết phải tiếp tục đầu tư cho khoa học cơ bản và năng lực nghiên cứu dài hạn của quốc gia. Bởi, không có nền khoa học cơ bản vững mạnh thì khó hình thành công nghệ lõi, càng khó xây dựng năng lực tự chủ công nghệ.

Quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh cuộc cạnh tranh công nghệ trên thế giới ngày càng quyết liệt. Những công nghệ có khả năng tạo ra thay đổi lớn trong kinh tế - xã hội đều được xây dựng trên nền tảng của quá trình nghiên cứu dài hạn, đòi hỏi nguồn lực, nhân lực và sự kiên trì.
Việt Nam đã bắt đầu cụ thể hóa cách tiếp cận này bằng việc xác định những lĩnh vực cần ưu tiên, ví dụ như Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), robot và tự động hóa, công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến, chip bán dẫn, an ninh mạng, lượng tử, năng lượng và vật liệu tiên tiến, công nghệ biển, hàng không và vũ trụ...
Việc xác định Danh mục công nghệ chiến lược không chỉ nhằm lựa chọn những lĩnh vực cần ưu tiên nguồn lực, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng năng lực nghiên cứu đủ mạnh để Việt Nam từng bước làm chủ những công nghệ có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế.
Con người là trung tâm của cuộc cạnh tranh công nghệ
Nếu khoa học cơ bản là nền móng thì con người là yếu tố quyết định khả năng biến tri thức thành sức mạnh công nghệ.
Theo Thứ trưởng Trần Trung Tính, cạnh tranh công nghệ thực chất là cạnh tranh về con người và trí tuệ. Vì vậy, cùng với đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu, Việt Nam cần có cơ chế thông thoáng để thu hút chuyên gia, nhà khoa học quốc tế, đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời chú trọng đào tạo thế hệ nghiên cứu trẻ.
Đây là bài toán có tính căn cơ. Công nghệ có thể được mua, máy móc có thể được đầu tư, nhưng năng lực sáng tạo và khả năng làm chủ công nghệ không thể hình thành trong ngày một ngày hai. Đặc biệt, với những lĩnh vực mới như AI, bán dẫn, lượng tử, công nghệ sinh học hay vật liệu tiên tiến, nhu cầu nhân lực không chỉ nằm ở số lượng kỹ sư, mà còn là những nhóm nghiên cứu có khả năng tạo ra tri thức mới, làm chủ công nghệ lõi và phát triển sản phẩm có khả năng cạnh tranh.
Thực tế tại tỉnh Gia Lai cho thấy, địa phương đang từng bước mở rộng hợp tác đào tạo nguồn nhân lực trong những lĩnh vực công nghệ mới. Tỉnh đã thúc đẩy liên kết với các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có các chương trình liên quan đến bán dẫn, AI, an toàn và an ninh mạng. Đây là một hướng đi phù hợp với yêu cầu đưa KHCN trở thành một bộ phận của chiến lược phát triển địa phương, thay vì chỉ là hoạt động nghiên cứu riêng biệt.
Ở tầm quốc gia, điều quan trọng là hình thành môi trường để người tài có thể nghiên cứu, sáng tạo và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Khi đó, đầu tư cho con người không chỉ là đầu tư cho giáo dục mà còn là đầu tư trực tiếp cho năng lực cạnh tranh quốc gia.
Từ phòng thí nghiệm đến thị trường
Một trong những điểm nghẽn lớn của hoạt động KHCN lâu nay là khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và thị trường. Có những công trình có giá trị khoa học nhưng chưa tìm được địa chỉ ứng dụng; có những DN đứng trước nhu cầu đổi mới công nghệ nhưng chưa tìm được nhóm nghiên cứu phù hợp; trong khi nguồn lực Nhà nước, trường đại học (ĐH), viện nghiên cứu và DN vẫn chưa được kết nối thành một chuỗi thống nhất. Đây chính là nơi cần thay đổi mạnh mẽ tư duy về hoạt động KH&CN.
Thay vì bắt đầu từ câu hỏi “nhà trường có gì để cung cấp cho DN”, cần bắt đầu từ câu hỏi DN và thị trường đang cần giải quyết vấn đề gì, và nhà trường, viện nghiên cứu cùng Nhà nước có thể tham gia giải quyết đến đâu.
Kết quả nghiên cứu chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển giao, thương mại hóa và ứng dụng để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể.
PGS.TS. Trần Trung Tính, Thứ trưởng Bộ KH&CN.
Khi bài toán xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, nghiên cứu sẽ có địa chỉ rõ ràng hơn. DN có thể tham gia ngay từ quá trình đặt hàng, xác định yêu cầu kỹ thuật, đầu tư thử nghiệm và tiếp nhận công nghệ. Nhà khoa học có điều kiện tiếp cận những vấn đề thực tế của sản xuất. Nhà nước có thể tập trung hỗ trợ những khâu có rủi ro cao, nhất là nghiên cứu nền tảng, thử nghiệm công nghệ mới và xây dựng thị trường ban đầu. Đây chính là tinh thần của mô hình liên kết “Ba nhà”: Nhà nước - nhà trường, viện nghiên cứu - doanh nghiệp.
“Ba nhà” phải cùng chịu trách nhiệm về kết quả
Trong cách tiếp cận mới, “Ba nhà” không nên chỉ được hiểu là ba chủ thể cùng tham gia một chương trình hợp tác. Quan trọng hơn, đó phải là một cơ chế trong đó các bên cùng tham gia giải quyết một bài toán cụ thể, và cùng hướng đến một kết quả đầu ra có thể đo đếm.
DN phải trở thành trung tâm đặt hàng và tiếp nhận công nghệ. Nhà trường, viện nghiên cứu cung cấp tri thức, đội ngũ chuyên gia, phòng thí nghiệm và nguồn nhân lực. Nhà nước tạo lập thể chế, đầu tư cho những lĩnh vực nền tảng, hỗ trợ những giai đoạn rủi ro cao và tạo điều kiện để sản phẩm công nghệ tiếp cận thị trường. Cách phân vai này đã được đặt ra trong tài liệu định hướng của hội nghị.
Tại TP. Hồ Chí Minh, một số mô hình hợp tác giữa ĐH và DN đang cho thấy hướng đi này có thể được cụ thể hóa. ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và Tập đoàn VNG đã hợp tác phát triển Saigon AI Hub, tạo không gian nghiên cứu AI với hạ tầng tính toán và kết nối giữa nghiên cứu, đào tạo với nhu cầu DN.
Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở việc bổ sung hạ tầng nghiên cứu, mà quan trọng hơn là tạo ra một môi trường để các nhóm nghiên cứu tiếp cận bài toán thực tế, phát triển nguyên mẫu và từng bước đưa sản phẩm công nghệ ra thị trường.
Từ những mô hình như vậy có thể thấy, thương mại hóa kết quả nghiên cứu không nên được coi là “bước cuối” của một đề tài khoa học. Ngay từ khi hình thành nhiệm vụ nghiên cứu, nhu cầu của thị trường, khả năng ứng dụng và đối tượng tiếp nhận công nghệ cần được tính đến.
Khoa học phải hướng tới con người và phát triển bền vững
Một nền khoa học mạnh không chỉ được đo bằng số lượng công trình, bằng sáng chế hay sản phẩm công nghệ. Giá trị sâu xa hơn nằm ở khả năng khoa học góp phần giải quyết những vấn đề của con người và đất nước.
Tại hội nghị, các nhà khoa học tập trung thảo luận nhiều vấn đề có tính thời sự và liên ngành như khoa học, ngoại giao và hoạch định chính sách; AI; cách mạng lượng tử; hóa học bền vững; quan sát Trái đất từ không gian; y tế tương lai; năng lượng hạt nhân và chuyển dịch năng lượng.
Những chủ đề này cho thấy khoa học ngày nay không tồn tại tách biệt với đời sống. Một công nghệ mới có thể tạo ra cơ hội kinh tế nhưng đồng thời đặt ra câu hỏi về đạo đức. AI có thể nâng cao năng suất nhưng cũng tác động đến việc làm và phương thức quản trị. Năng lượng hạt nhân có thể đóng góp vào chuyển dịch năng lượng nhưng đòi hỏi yêu cầu rất cao về an toàn và quản trị rủi ro.
Bởi vậy, Thứ trưởng Trần Trung Tính cũng đặt vấn đề phát triển KHCN phải gắn với đạo đức và trách nhiệm xã hội; tiến bộ công nghệ phải hướng tới phục vụ hạnh phúc của nhân dân, thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo đảm một tương lai xanh, bền vững.
Từ Nghị quyết số 57-NQ/TW đến việc xác định các công nghệ chiến lược, từ những diễn đàn khoa học quốc tế tại ICISE đến những mô hình liên kết giữa trường ĐH và DN, một yêu cầu ngày càng rõ: phải khơi thông dòng chảy từ tri thức đến công nghệ, từ công nghệ đến sản phẩm và từ sản phẩm đến giá trị phát triển.
Trong dòng chảy ấy, chủ thể nào cũng có vai trò riêng và quan trọng. Nhà nước không thể trực tiếp tạo ra mọi công nghệ nhưng có thể tạo ra thể chế để công nghệ được hình thành và phát triển. Nhà khoa học không thể một mình đưa mọi kết quả nghiên cứu ra thị trường nhưng có thể tạo ra tri thức và công nghệ mới. Nhà trường không thể chỉ đào tạo nhân lực theo những gì mình có, mà cần gắn đào tạo với nhu cầu tương lai của nền kinh tế. DN không thể chỉ chờ công nghệ có sẵn mà phải trở thành một lực lượng đầu tư cho nghiên cứu, đặt hàng và thương mại hóa.
Đó cũng là tinh thần của “đồng kiến tạo” trong phát triển KHCN và ĐMST./.