Truyền thông

OCOP Tây Ninh: Lấy KH&CN làm "đòn bẩy" cho đặc sản địa phương

BL • 05/10/2026 14:05

Không dừng lại ở chứng nhận OCOP, Tây Ninh đang lấy khoa học và công nghệ (KH&CN) làm nền tảng nâng tầm đặc sản địa phương: từ chuẩn hóa vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc đến chế biến và mở rộng thị trường, từng bước hình thành các chuỗi giá trị xanh, minh bạch và bền vững.

Từ “gắn sao” đến xây dựng năng lực đổi mới

Nhắc đến sản phẩm địa phương của Tây Ninh, có thể hình dung ngay một bức tranh phong phú với bánh tráng, muối, gạo, mãng cầu, sầu riêng, mật ong, rau quả, nấm, cá khô, mắm cá... Mỗi sản phẩm không chỉ mang giá trị hàng hóa, mà còn kết tinh điều kiện tự nhiên, tri thức bản địa, nghề truyền thống và sinh kế của cộng đồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường ngày càng đề cao an toàn thực phẩm, khả năng truy xuất, tính minh bạch và trách nhiệm môi trường, lợi thế “đặc sản” thôi là chưa đủ để tạo nên sức cạnh tranh bền vững.

Tính đến cuối tháng 9/2026, Tây Ninh có 423 sản phẩm OCOP, trong đó có 1 sản phẩm 5 sao, 87 sản phẩm 4 sao và 335 sản phẩm 3 sao. Con số này cho thấy tiềm năng sản phẩm địa phương rất lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn: làm thế nào để sản phẩm sau khi được công nhận vẫn giữ được chất lượng, mở rộng thị trường và tiếp tục gia tăng giá trị.

Ở góc độ KH&CN, OCOP không chỉ là một danh hiệu, mà là động lực để các chủ thể tổ chức lại quá trình sản xuất theo hướng bài bản hơn. Từ chỗ dựa nhiều vào kinh nghiệm, hộ sản xuất, tổ hợp tác, HTX và doanh nghiệp từng bước chuyển sang quy trình có kiểm soát, chú trọng nhật ký sản xuất, kiểm nghiệm chất lượng, truy xuất nguồn gốc, cải tiến bao bì và tiêu chuẩn hóa sản phẩm. Quan trọng hơn, tư duy sản xuất cũng dần chuyển từ “làm ra thứ mình có” sang “phát triển thứ thị trường cần”. Đích đến không chỉ là đạt sao, mà là tạo ra sản phẩm có chất lượng ổn định, nguồn gốc minh bạch và khả năng thương mại hóa cao hơn.

Định hướng này được thể hiện khá rõ trong Kế hoạch số 3211/KH-UBND ngày 9/7/2026 của UBND tỉnh Tây Ninh. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu phát triển thêm 73 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao; trong cả giai đoạn 2026-2030, dự kiến có thêm 213 sản phẩm. Đáng chú ý, kế hoạch không chỉ tập trung vào việc hình thành sản phẩm mới mà còn nhấn mạnh yêu cầu củng cố, nâng cấp và công nhận lại các sản phẩm hết thời hạn; chuẩn hóa quy trình, tiêu chuẩn; tăng cường chuyển đổi số; đồng thời hoàn thiện hệ thống quản lý, giám sát và đánh giá. Điều đó cho thấy trọng tâm của chương trình đang dần chuyển từ “có sản phẩm OCOP” sang “có năng lực duy trì, nâng cấp và phát triển sản phẩm OCOP một cách bền vững”.

448-202610031223541.png
Một số sản phẩm OCOP tiêu biểu của tỉnh Tây Ninh được trưng bày, giới thiệu tại chương trình xúc tiến thương mại năm 2026.

Vùng nguyên liệu là “phòng thí nghiệm” đầu tiên

Đối với nông sản, chất lượng không bắt đầu ở xưởng đóng gói mà được hình thành ngay trên đồng ruộng. Giống, đất, nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thời điểm thu hoạch và điều kiện bảo quản đều tác động đến sản phẩm cuối cùng. Nếu OCOP chỉ hoàn thiện nhãn mác trong khi vùng nguyên liệu vẫn phân tán, quy trình canh tác thiếu thống nhất, chất lượng sẽ khó ổn định.

Tây Ninh đang có những điều kiện quan trọng để kết nối sản phẩm OCOP với nền nông nghiệp được chuẩn hóa. Đến tháng 8/2026, toàn tỉnh có 464 mã số vùng trồng, 193 mã số cơ sở đóng gói đang hoạt động, 202 cơ sở áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, 6 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và 46 chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn. Những con số này không chỉ phục vụ xuất khẩu. Mã số vùng trồng và hồ sơ sản xuất còn là “địa chỉ dữ liệu” của nguyên liệu, giúp xác định sản phẩm đến từ đâu, được tạo ra theo quy trình nào và trách nhiệm thuộc về mắt xích nào khi có vấn đề phát sinh.

Ngành hàng lúa gạo cho thấy khá rõ sự thay đổi. Theo báo cáo 6 tháng đầu năm 2026 của ngành nông nghiệp và môi trường địa phương, Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Tây Ninh đã đạt 69.390 ha. Khi yêu cầu sử dụng đầu vào hợp lý, quản lý nước, giảm phát thải và ghi chép quy trình được đưa vào sản xuất, công nghệ không còn là một thiết bị đứng riêng lẻ mà trở thành phương thức tổ chức cả cánh đồng.

Kế hoạch OCOP giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu ít nhất 30% chủ thể xây dựng chuỗi giá trị theo hướng kinh tế tuần hoàn, OCOP xanh gắn với vùng nguyên liệu ổn định. Đây là mục tiêu có tính chuyển đổi. Việc đánh giá vì thế không thể chỉ dừng ở hình thức bao bì hoặc câu chuyện sản phẩm, mà cần theo dõi được nguồn nguyên liệu, hiệu quả sử dụng tài nguyên, lượng phụ phẩm phát sinh và giải pháp xử lý sau sản xuất.

Sản phẩm nhang Mai Vàng tại làng nghề trồng mai Tân Tây là một ví dụ về tư duy tận dụng phụ phẩm. Những cành mai sau cắt tỉa, thay vì bị loại bỏ, được sử dụng làm nguyên liệu cho sản phẩm mới đã được công nhận OCOP 3 sao. Quy mô mô hình có thể chưa lớn, nhưng cách tiếp cận đáng chú ý: đổi mới không nhất thiết bắt đầu bằng dây chuyền đắt tiền; nó có thể khởi nguồn từ việc nhận diện một nguồn nguyên liệu đang bị lãng phí, và tạo cho nguồn nguyên liệu ấy vòng đời mới.

Tiêu chuẩn hóa để tri thức bản địa có thể đi xa

Nhiều sản phẩm truyền thống được tạo nên từ kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ. Giá trị ấy cần được gìn giữ, nhưng muốn mở rộng sản xuất thì kinh nghiệm phải được chuyển thành thông số và quy trình có thể lặp lại. Với bánh tráng, đó là tỷ lệ phối trộn, độ dày, nhiệt độ và thời gian sấy; với mật ong là độ ẩm, điều kiện thu hoạch và bảo quản; với sản phẩm lên men là kiểm soát nguyên liệu, thời gian, vi sinh và an toàn thực phẩm. Khi các yếu tố cốt lõi được xác định, chủ thể mới có thể tăng sản lượng mà không làm mất đặc trưng.

KH&CN trong OCOP vì thế bao gồm công nghệ chế biến, quản lý chất lượng, thử nghiệm, thiết kế công nghiệp, sở hữu trí tuệ và công nghệ thông tin. Mỗi nhóm sản phẩm có một nhu cầu khác nhau: rau thủy canh, dưa lưới cần kiểm soát dinh dưỡng và môi trường nhà màng; gạo cần đồng bộ giống, canh tác, sấy, xay xát và bảo quản; thực phẩm chế biến cần ưu tiên an toàn, độ ổn định, bao bì và thời hạn sử dụng. Cơ sở nhỏ không nhất thiết sở hữu phòng thí nghiệm riêng, nhưng cần tiếp cận thuận lợi với dịch vụ thử nghiệm, tư vấn và chuyển giao phù hợp. Hỗ trợ chỉ hiệu quả khi giải quyết đúng “nút thắt”, thay vì áp dụng một công thức giống nhau cho mọi ngành hàng.

Hợp tác xã là “công nghệ tổ chức” của chuỗi giá trị

Công nghệ có thể giúp đo lường, truy xuất và tự động hóa, nhưng không tự giải quyết được tình trạng sản xuất manh mún. Muốn một vùng nguyên liệu cùng sử dụng giống phù hợp, tuân thủ lịch thời vụ, ghi nhật ký và bán theo hợp đồng, cần có một tổ chức đủ năng lực điều phối. Bởi vậy, HTX có thể được xem là một dạng “công nghệ tổ chức” trong hệ sinh thái OCOP.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh, tỉnh có 1.529 tổ hợp tác với hơn 24.000 thành viên; 455 HTX và quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động, thu hút hơn 86.000 thành viên. Đây là mạng lưới quan trọng để phổ biến kỹ thuật, tập hợp sản lượng, quản lý chất lượng và đàm phán với doanh nghiệp.

Tuy nhiên, số lượng HTX tăng lên chưa đồng nghĩa với chất lượng liên kết được cải thiện tương ứng. Nhiều HTX vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, năng lực quản trị chưa đồng đều; khả năng tiếp cận đất đai, tín dụng và KH&CN còn hạn chế; liên kết sản xuất - tiêu thụ tại một số nơi chưa thật sự bền vững. Vì vậy, bài toán không chỉ là đưa thiết bị, công nghệ hay phần mềm vào sản xuất, mà quan trọng hơn là chuyển tiến bộ kỹ thuật thành hiệu quả kinh tế cụ thể: hợp đồng ổn định hơn, doanh thu cao hơn và cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng giữa các bên.

Mô hình liên kết “4+1” tại HTX Nông nghiệp Mỹ Thạnh cho thấy một cách tổ chức đáng chú ý: chi bộ định hướng; chi hội nghề nghiệp tập hợp hội viên; HTX tổ chức sản xuất và kết nối thị trường; doanh nghiệp hỗ trợ đầu vào, tiêu thụ; nông dân trực tiếp sản xuất. Tại xã Tân Phú, tỉnh Tây Ninh, việc tham gia tổ hội nghề nghiệp cũng giúp người dân tiếp cận hướng dẫn kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm và kết nối đầu ra, thay cho phương thức canh tác chủ yếu dựa vào kinh nghiệm trước đây. Những mô hình này đã chứng minh rằng, tri thức và tiến bộ kỹ thuật chỉ thực sự lan tỏa khi được đặt trong một thiết chế liên kết đủ chặt chẽ, nơi trách nhiệm, vai trò và lợi ích của từng chủ thể được xác lập rõ ràng.

Dữ liệu phải trở thành tài sản của sản phẩm OCOP

Chuyển đổi số trong OCOP thường được nhận diện qua mã QR, gian hàng trực tuyến hoặc hoạt động quảng bá trên mạng xã hội. Những công cụ này cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu thông tin phía sau mã QR không được cập nhật, hồ sơ nguyên liệu không liên thông với lô sản xuất, hoặc đơn hàng trực tuyến không gắn với năng lực cung ứng thực tế, số hóa mới dừng ở bề mặt.

Mỗi chủ thể cần từng bước hình thành hồ sơ số cho sản phẩm, gồm thông tin vùng nguyên liệu, nhật ký sản xuất, kết quả kiểm nghiệm, nhà cung cấp, lô hàng, phản hồi khách hàng và lịch sử thay đổi công thức, bao bì. Dữ liệu ấy phục vụ đồng thời ba mục tiêu: quản lý nhà nước, quản trị nội bộ và cung cấp thông tin đáng tin cậy cho người mua. Quan trọng hơn, nó giúp chủ thể phát hiện sớm sai lệch, truy tìm nguyên nhân và điều chỉnh quy trình thay vì chỉ xử lý khi sản phẩm đã ra thị trường.

Kế hoạch của tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có 100% sản phẩm OCOP tham gia các kênh bán hàng hiện đại hoặc sàn thương mại điện tử; đồng thời hỗ trợ xây dựng thêm hai điểm trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm OCOP gắn với điểm du lịch. Mục tiêu này mở rộng không gian thị trường, nhưng “có mặt trên sàn” không đồng nghĩa với “bán hàng hiệu quả”. Chủ thể phải chuẩn hóa hình ảnh, nội dung, giá, quy cách đóng gói, tồn kho, giao vận và chăm sóc khách hàng. Dữ liệu bán hàng cũng cần được sử dụng để điều chỉnh sản xuất: mặt hàng nào được mua lại, dung lượng nào phù hợp, mùa nào nhu cầu tăng, phản hồi nào lặp lại nhiều nhất.

Tạo hệ sinh thái đổi mới thay vì những điểm sáng đơn lẻ

Để KH&CN thực sự trở thành nền tảng cho phát triển OCOP Tây Ninh, cách tiếp cận cần chuyển từ hỗ trợ từng hồ sơ, từng sản phẩm riêng lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái đổi mới đồng bộ. Trước hết, dữ liệu về sản phẩm, vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và các loại chứng nhận cần được chuẩn hóa, cập nhật và liên thông. Đây không chỉ là cơ sở để quản lý thời hạn công nhận, theo dõi chất lượng sản phẩm mà còn giúp nhận diện chính xác nhu cầu hỗ trợ của từng chủ thể.

Cùng với đó, mạng lưới dịch vụ KH&CN cần được tổ chức theo nhóm ngành hàng để các cơ sở nhỏ có thể tiếp cận thuận lợi hơn với hoạt động kiểm nghiệm, tiêu chuẩn hóa, thiết kế bao bì, bảo hộ sở hữu trí tuệ và cải tiến công nghệ chế biến. Trong chuỗi này, HTX cần được củng cố vai trò như: đầu mối quản trị dữ liệu, kiểm soát chất lượng và điều phối kế hoạch cung ứng của vùng nguyên liệu.

Hiệu quả của OCOP cũng cần được đánh giá vượt ra ngoài số lượng sản phẩm được xếp hạng. Những chỉ số như tăng trưởng doanh thu, mức độ ổn định của vùng nguyên liệu, số hộ tham gia chuỗi, tỷ lệ lô hàng có thể truy xuất, mức giảm chất thải, khả năng tạo việc làm và cải thiện thu nhập sẽ phản ánh rõ hơn tác động thực chất của chương trình đối với kinh tế nông thôn.

Với 423 sản phẩm OCOP, hệ thống vùng trồng và cơ sở đóng gói ngày càng mở rộng cùng mạng lưới HTX, tổ hợp tác khá đông đảo, Tây Ninh đã có nền tảng quan trọng để bước sang giai đoạn phát triển mới. Mục tiêu tiếp theo không chỉ là bổ sung thêm đặc sản vào danh mục OCOP, mà còn là giúp mỗi sản phẩm có nền tảng khoa học vững chắc hơn, chuỗi dữ liệu minh bạch hơn và mô hình kinh doanh thích ứng hơn với thị trường.

Khi tri thức bản địa được chuẩn hóa mà vẫn giữ được bản sắc, khi công nghệ được ứng dụng đúng vào những điểm nghẽn của sản xuất và thị trường, đồng thời lợi ích từ đổi mới quay trở lại với người sản xuất, OCOP mới thực sự trở thành động lực cho một nền kinh tế nông thôn xanh, hiện đại và bền vững.

Tài liệu tham khảo

1. Báo và Phát thanh, Truyền hình Tây Ninh (2026), “Phát triển sản phẩm OCOP từ lợi thế đặc sản địa phương”, https://baotayninh.vn/phat-trien-san-pham-ocop-tu-loi-the-dac-san-dia-phuong-156604.html.

2. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh (2026), “Dấu ấn ngành Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh 6 tháng đầu năm 2026”, https://snnmt.tayninh.gov.vn/hoat-dong-cua-nganh/dau-an-nganh-nong-nghiep-va-moi-truong-tay-ninh-6-thang-dau-nam-2026-dong-bo-96-du-lieu-dat-dai--1074743.

3. Báo Nhân Dân (2026), “Động lực phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới”, https://nhandan.vn/ocop/dong-luc-phat-trien-nong-nghiep-va-xay-dung-nong-thon-moi-post970548.html.

6

BL