Truyền thông

Kế hợp nhiều hình thức đưa pháp luật đến với đồng bào dân tộc thiểu số

Bích Việt • 05/10/2026 08:33

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 cùng Đề án “Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi" đang mở ra cách tiếp cận mới: nội dung phải thiết thực, hình thức phù hợp và người dân được đặt ở vị trí trung tâm.

Từ truyền đạt một chiều đến tiếp cận chủ động

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 12/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 23/8/2026, gồm 5 chương, 39 điều và có hiệu lực từ ngày 1/3/2027. Ngày 16/9/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1790/QĐ-TTg về kế hoạch triển khai thi hành Luật. Đây là những bước chuẩn bị pháp lý quan trọng để đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi cả nước.

Một trong những thay đổi đáng chú ý là chuyển từ cung cấp thông tin pháp luật một chiều sang tạo điều kiện để người dân chủ động tiếp cận, tìm hiểu và sử dụng pháp luật. Công tác phổ biến pháp luật vì vậy không chỉ dừng ở tổ chức hội nghị, phát tài liệu hay truyền đạt nội dung văn bản mà phải giúp người dân nhận biết quyền, nghĩa vụ và cách xử lý những vấn đề cụ thể phát sinh trong đời sống.

Trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình dự thảo Luật trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh yêu cầu “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chuyển đổi mạnh mẽ tư duy, phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật”. Theo đó, người dân cần được tạo điều kiện chuyển từ tiếp nhận thụ động sang chủ động tìm hiểu pháp luật thông qua những hình thức có tính tương tác và khả năng ứng dụng trong thực tế.

Yêu cầu này càng có ý nghĩa đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi khả năng tiếp cận thông tin pháp luật giữa các địa bàn còn chênh lệch. Khoảng cách địa lý, điều kiện hạ tầng, trình độ sử dụng công nghệ, ngôn ngữ và phong tục tập quán đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tuyên truyền.

Trước đó, ngày 3/2/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 233/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035”. Đề án đặt mục tiêu đổi mới toàn diện hoạt động phổ biến pháp luật, hình thành thói quen tự giác tìm hiểu và xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật phù hợp với đặc điểm của từng cộng đồng.

Trong giai đoạn 2026-2030, khoảng 650 người sẽ được đào tạo, bồi dưỡng để trở thành lực lượng nòng cốt triển khai công tác phổ biến pháp luật tại các địa phương. Mỗi xã đặc biệt khó khăn phấn đấu có ít nhất hai người làm công tác này được bồi dưỡng theo chương trình, tài liệu của Đề án.

Đề án cũng đặt mục tiêu 100% địa phương thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng phù hợp; 70% chương trình, tài liệu được số hóa. Khoảng 50% người dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được phổ biến pháp luật bằng hình thức phù hợp; tỷ lệ này là 60% tại vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự.

chuyển đổi sản xuất
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công nghệ có thể giúp khắc phục một phần trở ngại về khoảng cách.

Những mục tiêu cụ thể cho thấy kết quả phổ biến pháp luật không còn được đánh giá đơn thuần bằng số hội nghị được tổ chức hoặc số tài liệu đã phát. Hiệu quả phải được thể hiện ở khả năng tiếp cận, mức độ hiểu và việc người dân có thể vận dụng quy định pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Nội dung tuyên truyền cũng cần xuất phát từ những vấn đề gần gũi như đất đai, hôn nhân và gia đình, hộ tịch, bảo hiểm y tế, trợ giúp pháp lý, phòng, chống tảo hôn, bạo lực gia đình, mua bán người và lừa đảo trên không gian mạng. Khi thông tin trả lời đúng điều người dân đang cần, pháp luật mới trở thành công cụ hỗ trợ đời sống thay vì những quy định khó nhớ, khó áp dụng.

Người có uy tín làm cầu nối tại cơ sở

Đưa pháp luật về thôn, bản đòi hỏi lực lượng truyền đạt phải hiểu pháp luật, đồng thời am hiểu ngôn ngữ, văn hóa và đời sống của cộng đồng. Bên cạnh cán bộ tư pháp, báo cáo viên và tuyên truyền viên pháp luật, trưởng thôn, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo và hòa giải viên ở cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng.

Đây là những người sống gần dân, nắm được hoàn cảnh của từng gia đình và thường xuyên tham gia giải quyết các vấn đề phát sinh trong cộng đồng. Một quy định được họ giải thích bằng cách nói gần gũi, gắn với câu chuyện cụ thể thường dễ được tiếp nhận hơn việc đọc nguyên văn điều luật hoặc truyền đạt bằng nhiều thuật ngữ chuyên môn.

Thực tế tại Lai Châu cho thấy vai trò của lực lượng này đang được địa phương chú trọng. Tháng 6/2026, tỉnh tổ chức chương trình “Điểm tựa của bản làng”, biểu dương 130 trưởng bản, người có uy tín tiêu biểu đến từ 11 xã biên giới. Toàn tỉnh có 956 người có uy tín và 956 trưởng bản; hơn 85% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc 20 dân tộc.

Phát biểu tại chương trình, ông Tống Thanh Hải, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lai Châu nhấn mạnh: “Các trưởng bản, người có uy tín là những người gần dân, hiểu dân, có khả năng vận động, thuyết phục nhân dân”.

Theo ông Tống Thanh Hải, đội ngũ trưởng bản, người có uy tín là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật; giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng đời sống mới, phát triển kinh tế và tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới.

Lãnh đạo tỉnh Lai Châu đề nghị định kỳ tổ chức tập huấn, cung cấp thông tin thời sự, pháp luật và sách, báo để trưởng bản, người có uy tín nâng cao nhận thức, thực hiện việc tuyên truyền tại cơ sở chính xác, thuyết phục và hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, uy tín trong cộng đồng không thể thay thế kiến thức pháp luật. Nếu thông tin được truyền đạt không đầy đủ hoặc không kịp cập nhật quy định mới, người tuyên truyền có thể giải thích thiếu chính xác. Vì vậy, việc phát huy vai trò của trưởng bản, người có uy tín phải đi cùng hoạt động bồi dưỡng thường xuyên, cung cấp tài liệu dễ sử dụng và thiết lập đầu mối hỗ trợ khi phát sinh vấn đề phức tạp.

Đề án giai đoạn 2026-2035 xác định xây dựng đội ngũ nòng cốt có kiến thức pháp luật, am hiểu phong tục và ưu tiên người có khả năng sử dụng tiếng dân tộc thiểu số. Lực lượng được huy động còn bao gồm công an, quân đội, trợ giúp viên pháp lý, luật sư, luật gia, nhà giáo và chuyên gia pháp lý. Việc phối hợp này giúp thông tin được chuyển tải gần gũi nhưng vẫn bảo đảm chính xác về nội dung.

Cách tuyên truyền cũng cần thay đổi theo từng nhóm. Với người cao tuổi hoặc người chưa thành thạo tiếng phổ thông, hình thức đối thoại trực tiếp, giải đáp tình huống và truyền đạt bằng tiếng dân tộc có thể phù hợp hơn. Với thanh niên, nội dung về phòng, chống lừa đảo, bảo vệ dữ liệu cá nhân, giao dịch điện tử và trách nhiệm khi sử dụng mạng xã hội cần được ưu tiên.

Đối với những vấn đề có nguy cơ phát sinh tranh chấp, tuyên truyền phải gắn với tư vấn và trợ giúp pháp lý. Người dân không chỉ cần biết một quy định tồn tại mà còn cần được hướng dẫn cơ quan có thẩm quyền, hồ sơ cần chuẩn bị và trình tự thực hiện. Đây là bước chuyển quan trọng từ phổ biến kiến thức sang hỗ trợ khả năng sử dụng pháp luật.

Công nghệ mở rộng đường đến pháp luật

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 dành sự quan tâm rõ rệt cho chuyển đổi số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo. Cổng Pháp luật quốc gia được xác định là nền tảng số quốc gia về pháp luật dùng chung cho các ngành, lĩnh vực. Các tổ chức, cá nhân được khuyến khích phổ biến pháp luật thông qua nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo nhưng nội dung phải được kiểm soát, kiểm chứng và quản lý chặt chẽ.

Tại hội thảo góp ý dự án Luật tổ chức tháng 8/2026, Tiến sĩ khoa học Nghiêm Vũ Khải, nguyên Thứ trưởng Bộ KH&CN nhận định: “Mọi quy định của luật phải hướng tới phục vụ người dân, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân”.

Ông Nghiêm Vũ Khải cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, người dân hằng ngày phải đối mặt với các thủ đoạn lừa đảo xuyên biên giới, giả mạo cơ quan nhà nước, hợp đồng điện tử, đầu tư tài chính, tiền mã hóa, công nghệ giả mạo hình ảnh và đánh cắp dữ liệu cá nhân. Không ít trường hợp gặp rủi ro do chưa được tiếp cận kịp thời nguồn tư vấn pháp luật chính thống.

Từ thực tế đó, ông đề xuất ưu tiên phát triển hạ tầng số phục vụ phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng công cụ hỗ trợ người dân tra cứu, hỏi đáp, tiếp nhận cảnh báo rủi ro và tiếp cận thông tin pháp luật chính xác, thuận tiện hơn.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công nghệ có thể giúp khắc phục một phần trở ngại về khoảng cách. Video ngắn, chương trình phát thanh, chuyên mục hỏi đáp, tủ sách điện tử và nội dung được chuyển tải qua các nền tảng quen thuộc có khả năng đưa thông tin đến người dân nhanh hơn.

Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 50% hoạt động phổ biến pháp luật được thực hiện trên môi trường số và ít nhất 30% hoạt động được thực hiện bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Đây là cơ sở để địa phương kết hợp giữa truyền thông trực tiếp tại cộng đồng với các phương thức phổ biến pháp luật dựa trên công nghệ.

Lào Cai là một trong những địa phương đã xây dựng kế hoạch triển khai Đề án trong năm 2026. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có 60% người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được phổ biến pháp luật bằng hình thức phù hợp. Tỷ lệ này là 70% tại vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và địa bàn phức tạp về an ninh, trật tự. Ít nhất 30% hoạt động được thực hiện bằng tiếng dân tộc thiểu số và 50% thông qua môi trường số.

Dù vậy, số hóa tài liệu không đồng nghĩa người dân đương nhiên tiếp cận được pháp luật. Tài liệu điện tử sẽ khó phát huy hiệu quả nếu nội dung dài, nhiều thuật ngữ, không phù hợp với màn hình điện thoại hoặc người sử dụng chưa có kỹ năng tìm kiếm và kiểm chứng thông tin. Các sản phẩm số vì thế cần ngắn gọn, trực quan, có phiên bản âm thanh, hình ảnh và ngôn ngữ phù hợp với từng cộng đồng.

Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo cũng phải đi kèm trách nhiệm kiểm tra nội dung. Thông tin pháp luật sai, thiếu căn cứ hoặc đã hết hiệu lực có thể khiến người dân thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ. Công nghệ chỉ thực sự hữu ích khi nguồn dữ liệu đáng tin cậy, nội dung được cập nhật và luôn có cơ chế để người dân liên hệ với cán bộ chuyên môn khi cần giải đáp sâu hơn.

Trong bối cảnh các địa phương chuẩn bị hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam 9/11, yêu cầu đặt ra không chỉ là tổ chức thêm hoạt động tuyên truyền mà phải lựa chọn đúng nội dung, đúng đối tượng và đúng phương thức. Hiệu quả cuối cùng không nằm ở số tài liệu được phát hay số lượt truy cập, mà ở việc đồng bào có hiểu, tin tưởng và biết sử dụng pháp luật để giải quyết những vấn đề thiết thân trong đời sống hay không./.

Bích Việt