Truyền thông

Trao quyền cho phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Ngọc Diệp, Quang Hưng • 03/10/2026 07:25

Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng bất bình đẳng giới về cơ hội tiếp cận thông tin, công nghệ, tài chính và sinh kế thích ứng. Tại Đối thoại đối tác “Thúc đẩy bình đẳng giới trong ứng phó với biến đổi khí hậu” diễn ra mới đây, các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu trao quyền để phụ nữ trở thành chủ thể tích cực của nền kinh tế xanh, đồng thời đưa bình đẳng giới vào trung tâm của các chính sách ứng phó biến đổi khí hậu và chuyển đổi xanh.

30-1636449010-phu-nu-ung-pho-bien-doi-khi-hau1.jpg
Tại Việt Nam, phụ nữ là lực lượng tiên phong trong các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm rủi ro thiên tai (Nguồn: Báo Phụ Nữ Việt Nam).

Sáng 29/9/2026, tại Hà Nội, Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) phối hợp cùng Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) tổ chức buổi Đối thoại đối tác “Thúc đẩy bình đẳng giới trong ứng phó với biến đổi khí hậu” (EmPower).

Sự kiện nằm trong khuôn khổ chuyến công tác giám sát chung của Văn phòng khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UN Women, UNEP và các đối tác phát triển, nhằm xác định ưu tiên phối hợp năm 2026 - 2027 và chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo tại Việt Nam.

Phát huy vai trò của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với nhân loại, với mức độ tác động ngày càng tăng, trên phạm vi toàn cầu. Là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu, Việt Nam đang đối mặt với khủng hoảng khí hậu ngày càng nghiêm trọng.

Theo UN Women, biến đổi khí hậu đang tác động nghiêm trọng đến các nhóm dân cư nghèo và dễ bị tổn thương. Trong đó, phụ nữ tham gia sản xuất nông nghiệp, đặc biệt ở quy mô nhỏ và tự cung, tự cấp, thường phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết nên dễ chịu ảnh hưởng khi thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan gia tăng.

Có thể nói, phụ nữ được xếp vào nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước những tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt tại những khu vực nhạy cảm với thiên tai, thời tiết bất thường, vùng nông thôn, miền núi, nơi điều kiện sản xuất cũng như mức sống còn nhiều khó khăn. Nhưng ở chiều ngược lại, phụ nữ cũng tham gia thực hiện các kế hoạch, chiến lược của ngành nông nghiệp, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, vai trò của phụ nữ trong phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ. Các định kiến về giới cùng những hạn chế trong tiếp cận công nghệ, kỹ thuật, thông tin, đào tạo và nguồn lực tài chính đang làm giảm cơ hội tham gia và khả năng ra quyết định của phụ nữ trong các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu. Những rào cản này càng rõ hơn đối với phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ nghèo, phụ nữ làm chủ hộ và những người sinh sống tại các khu vực thường xuyên chịu tác động của thiên tai.

Trong khi đó, thực tế tại nhiều địa phương ở Việt Nam cho thấy phụ nữ đang chủ động triển khai nhiều sáng kiến bảo vệ môi trường và phát triển sinh kế bền vững, tiêu biểu như mô hình “Thu gom rác thải trong chăn nuôi” của phụ nữ dân tộc Mông ở Lào Cai; các tổ phụ nữ thu gom, phân loại, xử lý rác thải nhựa; hay việc tận dụng vật liệu tái chế để xây dựng các không gian xanh tại khu dân cư.

Những mô hình này cho thấy, khi được bảo đảm cơ hội, nguồn lực và tiếng nói trong quá trình ra quyết định, phụ nữ có thể trở thành lực lượng quan trọng thúc đẩy các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu ngay từ cộng đồng. Vì vậy, việc tăng cường sự tham gia và trao quyền cho phụ nữ cần được xem là một thành tố quan trọng trong các chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy chuyển đổi xanh.

Đưa bình đẳng giới vào trung tâm của chuyển đổi xanh

Thời gian qua, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, chính quyền các địa phương phối hợp chặt chẽ với các hội, cấp hội trong việc xây dựng các chương trình tăng cường năng lực về kỹ thuật cho một số tổ chức phụ nữ, nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số về thích ứng biến đổi khí hậu.

Theo số liệu do UN Women công bố tại buổi đối thoại đối tác “Thúc đẩy bình đẳng giới trong ứng phó với biến đổi khí hậu”, kết quả triển khai Chương trình EmPower giai đoạn I (2018 - 2022) ghi nhận 11 chính sách có lồng ghép vấn đề giới được ban hành, hơn 1.000 phụ nữ được hỗ trợ phát triển mô hình sinh kế từ năng lượng tái tạo, hơn 50 tổ chức xã hội cùng cán bộ Hội Phụ nữ được nâng cao năng lực chuyên môn.

Bước sang giai đoạn II (2023 - 2027), chương trình tập trung vào các hoạt động quản trị rủi ro khí hậu có trách nhiệm giới, thúc đẩy sự tham gia lãnh đạo của phụ nữ trong quyết định về biến đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai, hỗ trợ mô hình sinh kế thích ứng.

Nêu rõ các thách thức về giới tại Việt Nam trong tiến trình hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, bà Caroline T. Nyamayemombe, Trưởng Đại diện UN Women tại Việt Nam cho biết: Các số liệu thực tế cho thấy, khoảng cách giới vẫn tồn tại đáng kể, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa. So với nam giới, mức tiền lương của phụ nữ ở hai khu vực này chênh lệch khá lớn. Tỷ lệ tiếp cận tín dụng của nữ cũng chỉ đạt 18,2% so với mức 23,2% của nam giới; 65% phụ nữ dân tộc thiểu số làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp; thiệt hại do bạo lực trên cơ sở giới chiếm khoảng 1,81% GDP.

“Nếu quá trình chuyển đổi xanh và chuyển đổi số không giải quyết các rào cản này, khoảng cách bất bình đẳng có nguy cơ gia tăng”, bà Caroline nhấn mạnh.

Từ cam kết chính sách đến trao quyền thực chất cho phụ nữ

Từ góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Tuấn Quang, Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhấn mạnh chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng công bằng phải tạo ra cơ hội cho phụ nữ và các nhóm dễ bị tổn thương, thay vì chỉ dừng ở yêu cầu không gây thêm tác động tiêu cực.

Theo đó, phụ nữ cần được nhìn nhận là chủ thể tích cực của nền kinh tế xanh - là những nữ doanh nhân năng lượng sạch, người đứng đầu hợp tác xã, chủ hộ sản xuất nhỏ - chứ không đơn thuần là nhóm cần được bảo vệ trước rủi ro của quá trình chuyển đổi. Cùng với đó, cơ hội việc làm mới, thị trường mới, công nghệ sạch và nguồn tài chính khí hậu cần được mở rộng tới khu vực nông thôn, miền núi và các địa bàn dễ bị tổn thương.

Việc lồng ghép giới cũng cần được thực hiện ngay từ khâu thiết kế các công cụ kỹ thuật phục vụ chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng, như thị trường carbon, hệ thống kiểm kê khí nhà kính/MRV và kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trong giai đoạn tới, Cục Biến đổi khí hậu đề nghị tập trung vào ba nhóm nhiệm vụ: (i) hoàn thiện thể chế gắn với nâng cao năng lực thực thi; (2) hỗ trợ các sáng kiến kinh tế phát thải thấp và sinh kế thích ứng; (3) xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá đáp ứng giới thông qua thu thập, phân tích dữ liệu phân tách theo giới tính và độ tuổi.

Tại phiên thảo luận bàn tròn, các đại biểu tập trung phân tích những rào cản trong việc chuyển hóa cam kết chính sách thành hành động; khả năng tiếp cận các sản phẩm tài chính xanh phù hợp; cũng như các giải pháp nâng cao thực quyền của phụ nữ trong quản trị khí hậu.

Bà Maria Holtsberg, Phó Giám đốc Vùng châu Á - Thái Bình Dương của UN Women, cho rằng Việt Nam đang chuyển từ việc nâng cao nhận thức về vai trò của bình đẳng giới sang tìm kiếm các giải pháp thực thi trên diện rộng.

Theo đó, yêu cầu đặt ra trong thời gian tới là thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn, nhất là khoảng trống về ngân sách, nâng cao năng lực thực thi tại địa phương, đồng thời tăng cường trao quyền thực chất cho phụ nữ ở cơ sở. Các mô hình kinh doanh nhỏ do phụ nữ khởi xướng cũng cần được hỗ trợ để phát triển thành những hệ sinh thái tài chính và thị trường bền vững.

Thúc đẩy bình đẳng giới trong ứng phó với biến đổi khí hậu vì vậy không chỉ là bảo vệ một nhóm dễ bị tổn thương trước các tác động của thiên tai. Quan trọng hơn, đó là tạo điều kiện để phụ nữ có tiếng nói, nguồn lực và quyền quyết định, từ đó phát huy đầy đủ vai trò của họ trong chuyển đổi xanh, phát triển sinh kế bền vững và nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng trước biến đổi khí hậu. Điều này không chỉ hướng đến những kết quả cụ thể trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu mà còn mang lại những lợi ích to lớn về an sinh xã hội và bình đẳng giới./.

Ngọc Diệp, Quang Hưng