Diễn đàn

Gỡ "nút thắt" trong quy chế nghiệm thu và công bố ấn phẩm khoa học

ThS. Nguyễn Hoàng Nam • 06/10/2026 16:57

Hiện nay, việc thiếu quy định rõ ràng về thời gian đánh giá, nghiệm thu đề tài và bài báo khoa học đang gây nhiều bất cập tại các cơ sở giáo dục. Bài viết phân tích các lỗ hổng hiện tại và đề xuất 4 giải pháp trọng tâm.

a.jpg
Việt Nam cần hoàn thiện quy chế chính sách về nghiệm thu và nâng cao hiệu quả quản lý công bố ấn phẩm khoa học.

Các hạn chế trong đánh giá, nghiệm thu và kiểm duyệt ấn phẩm khoa học

Xác định khung thời gian kiểm duyệt chưa phù hợp

Hiện nay, chính sách quy định về đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở các cấp hay các chỉ tiêu bài báo khoa học trong nước dành cho giảng viên tại nhiều cơ sở giáo dục đại học đa phần đã vô tình biến hoạt động trí tuệ này thành một gánh nặng hành chính. Thay vì là quyền lợi, cơ hội để cống hiến các sản phẩm trí tuệ, phục vụ trực tiếp cho sự phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước, các quy định này lại khiến giảng viên thực hiện nghiên cứu như một nghĩa vụ, một trách nhiệm để hoàn thành chỉ số hiệu suất công việc (KPI). Điển hình nhất là việc chạy đua có bài vào các tạp chí chỉ vì mục tiêu nộp bài đúng hạn trong năm học, thay vì kiên trì theo đuổi các công bố tại những tạp chí uy tín và có tầm ảnh hưởng.

Thực trạng này tiếp tục nảy sinh từ vấn đề cốt lõi về khung thời gian. Các tạp chí khoa học chuẩn mực, dù là trong nước như các tạp chí thuộc các đại học quốc gia hoặc viện hàn lâm, hay tạp chí quốc tế thuộc danh mục Scopus, ISI/WoS đều yêu cầu một quy trình phản biện nghiêm ngặt và kéo dài. Riêng vòng phản biện đầu tiên, bao gồm việc gửi bài, mời phản biện, phản hồi và chỉnh sửa, thường tiêu tốn từ sáu tháng đến một năm. Nếu mục tiêu thực sự của các trường là khuyến khích công bố chất lượng, thì việc điều chỉnh khung thời gian cho phép là điều kiện tiên quyết, không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, do thời hạn hành chính quá eo hẹp, đa số giảng viên phải áp dụng chiến thuật “tiền trảm hậu tấu”, làm xong hết rồi mới đăng ký đề tài. Tình trạng này biến việc xin cấp đề tài, công trình khoa học các cấp thành một thủ tục hợp thức hóa cho đề tài, công trình đã được thực hiện, bởi lẽ nếu chờ xin duyệt rồi mới bắt tay vào làm, chắc chắn sẽ không thể kịp tiến độ.

Trên thực tế, nhiều cơ sở giáo dục hiện nay công bố thời gian kiểm duyệt đối với các ấn phẩm khoa học (bài báo, đề tài nghiên cứu, công trình khoa học,…) tại đơn vị với thời hạn chỉ 3 - 4 tháng, tính từ lúc duyệt đến khi có bài đăng trên các tạp chí hoặc ấn phẩm khoa học. Điều này vô hình chung gây ra hiện tượng “chạy bài”, gián tiếp dẫn đến các vấn nạn mua bán bài báo khoa học vì gần như chỉ những tạp chí phản biện hình thức nhanh hoặc không uy tín mới kịp tiến độ nộp theo thông báo của các cơ sở giáo dục trên.

Tiêu chí đánh giá thiếu rõ ràng

Về mặt đánh giá, mặc dù hầu hết các cơ sở giáo dục có ban hành các tiêu chí đánh giá riêng, trong khi cách thức thực hiện vẫn theo kiểu cũ, chỉ đơn thuần đưa ra kết quả đạt hay không đạt mà không kèm theo bất kỳ phản hồi chi tiết nào. Việc này khiến người nộp sản phẩm, công trình nghiên cứu khoa học, thường không biết lý do chính xác tại sao công trình của mình lại không được chấp nhận hoặc chỉ đạt mức tối thiểu.

Hệ quả là nghiên cứu khoa học bị biến thành công việc làm theo kiểu có sản phẩm để đối phó. Giảng viên/nghiên cứu viên phải gồng mình hoàn thành để kịp nộp ấn phẩm công bố theo tiến độ quy định. Đơn cử như phải có giấy chấp nhận đăng bài trước cuối năm tài chính, nếu không, các giảng viên/nghiên cứu viên sẽ bị đánh giá không đạt chỉ tiêu. Kết quả đánh giá không chỉ đơn thuần là vấn đề thành tích mà còn tác động trực tiếp đến thu nhập như cắt giảm thưởng, phụ cấp nghiên cứu và ảnh hưởng lâu dài đến uy tín nghề nghiệp của giảng viên/nghiên cứu viên trong môi trường học thuật.

Chính vòng luẩn quẩn áp lực này là nguyên nhân gây ra sự hời hợt, khiến những người tài, có tiềm năng nghiên cứu thực thụ cảm thấy nản lòng, không còn mặn mà tham gia. Họ có xu hướng chuyển sang các công việc khác ít áp lực hơn (bù giờ chuẩn giảng dạy [1]) hoặc tìm kiếm cơ hội ở môi trường khác, nơi hoạt động nghiên cứu được hỗ trợ về thời gian và nguồn lực một cách thực chất hơn. Điều này dẫn đến sự giảm sút đáng kể về chất lượng nghiên cứu chung của đơn vị.

Thủ tục hành chính rườm rà

Tại nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, một thực tế phổ biến khác là quy trình giao chỉ tiêu sản phẩm khoa học hay đề tài nghiên cứu các cấp thường rất chậm chạp; các thủ tục hành chính kéo dài. Hậu quả là thời hạn thực hiện nghiên cứu còn lại cho giảng viên/nghiên cứu viên để viết, nộp và chỉnh sửa, chấp nhận ấn phẩm khoa học (thường là bài báo khoa học) chỉ vỏn vẹn trong 3 - 4 tháng. Khoảng thời gian eo hẹp này sẽ bất khả thi đối với các tạp chí khoa học nghiêm túc, có quy trình phản biện khắt khe và kéo dài qua nhiều vòng. Giảng viên/nghiên cứu viên rơi vào thế bị động, buộc phải tìm đến những lựa chọn kém chất lượng hơn, gây tổn hại đến uy tín học thuật cá nhân và cơ sở đào tạo, làm xói mòn nghiêm trọng mục tiêu ban đầu của việc khuyến khích nghiên cứu.

Hàm ý đề xuất

Nhằm khắc phục, giải quyết các trở ngại đang tồn đọng về quy chế nghiệm thu và các vấn đề liên quan đến kiểm duyệt, quản lý ấn phẩm khoa học hiệu quả, chúng ta cần quan tâm tới các vấn đề sau:

Một là, ban hành chính sách điều chỉnh khung thời gian phù hợp trong kiểm duyệt các ấn phẩm khoa học. Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đưa ra các quy định cụ thể về khung thời gian nghiệm thu, kiểm duyệt đối với đề tài, công trình nghiên cứu và các sản phẩm bài báo khoa học.

Bên cạnh đó, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong quy trình giao nhận đề tài nghiên cứu. Trong đó, 3 hoạt động cần được thúc đẩy, bao gồm: chuẩn hóa nền tảng tiếp nhận số, thay thế việc nộp hồ sơ giấy bằng tiếp nhận và xử lý hồ sơ trực tuyến; đơn giản hóa quy trình thực hiện; tối ưu hiệu quả xử lý, rút ngắn thời gian thẩm định.

Hai là, quy định khung hình phạt cho hoạt động chạy bài, đặc biệt là cá nhân tham gia vào đường dây mua bán bài báo khoa học có tổ chức.

Ba là, thiết lập chính sách chung về tiêu chí đánh giá, kiểm duyệt đối với đề tài, công trình nghiên cứu và các sản phẩm bài báo khoa học dành cho các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước.

Bốn là, xây dựng chính sách khuyến khích dành cho các ấn phẩm khoa học nói riêng và tài sản trí tuệ nói chung, mang lại giá trị phục vụ phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là trong mục đích giáo dục.

Mặt khác, các trường đại học, viện nghiên cứu nên hạn chế đưa ra các chỉ tiêu KPI theo hướng ép buộc thực hiện. Bởi lẽ khi các chỉ tiêu số lượng như số lượng bài báo, số giờ nghiên cứu được áp đặt quá mức, người nghiên cứu dễ rơi vào tình trạng chạy theo thành tích, làm giảm chất lượng công trình và dẫn đến các hành vi gian lận học thuật. Thay vào đó, chính sách cần khuyến khích các ấn phẩm khoa học có giá trị thực tiễn và tính ứng dụng cao, phục vụ cho đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ. Cách tiếp cận này giúp chuyển dịch trọng tâm từ số lượng sang chất lượng, góp phần nuôi dưỡng, kiến tạo môi trường nghiên cứu trong sạch, lâu dài và bền vững.

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Thông tư 20/2020/TT-BGDĐT ngày 27/7/2020 quy định chế độ làm việc của giảng viên cơ sở giáo dục Đại học.

ThS. Nguyễn Hoàng Nam