Việt Nam tăng một bậc trên bảng xếp hạng đổi mới sáng tạo toàn cầu 2026
Việt Nam xếp thứ 43 trong 139 nền kinh tế về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2026, tăng một bậc so với năm 2025. Kết quả đầu ra tăng hai bậc lên vị trí 35, trong khi đầu vào tụt bốn bậc xuống vị trí 54. Kết quả này cho thấy khả năng tạo ra kết quả từ nguồn lực hiện có, vừa đặt ra yêu cầu củng cố nền tảng nghiên cứu, nhân lực và thể chế để tiến gần mục tiêu thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu vào năm 2030.
Bức tranh GII 2026 và chủ đề khởi nghiệp từ khoa học
Ngày 29/9/2026, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố Báo cáo GII 2026 với phạm vi 139 nền kinh tế. Chỉ số này tổng hợp kết quả theo hai nhóm lớn: đầu vào đổi mới sáng tạo gồm thể chế, nguồn nhân lực và nghiên cứu, cơ sở hạ tầng, trình độ phát triển của thị trường, trình độ phát triển của doanh nghiệp; đầu ra gồm sản phẩm tri thức và công nghệ cùng sản phẩm sáng tạo.
Vì vậy, thứ hạng chung phản ánh nhiều mặt của hệ sinh thái, không thể được hiểu như một thước đo duy nhất về số lượng sáng chế hay trình độ công nghệ. WIPO cũng lưu ý thay đổi thứ hạng qua từng năm chịu ảnh hưởng của kết quả thực tế và phương pháp đo lường.
Báo cáo năm nay mang chủ đề “Tiếp sức cho các nhà khởi nghiệp ở tuyến đầu khoa học” (Powering entrepreneurs at the frontier of science), tập trung vào cách các doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên khoa học chuyên sâu đưa nghiên cứu tiên phong thành sản phẩm, doanh nghiệp và ngành mới. Chủ đề đi từ phòng thí nghiệm đến thị trường: một phát hiện khoa học cần đội ngũ có năng lực, quyền sở hữu trí tuệ rõ ràng, vốn phù hợp với chu kỳ phát triển dài và khả năng mở rộng quy mô.
Theo phân tích chuyên đề của WIPO, trên 30.000 doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học chuyên sâu đã được thành lập từ năm 2000; tổng giá trị doanh nghiệp của nhóm này ước 7,6 nghìn tỷ USD vào năm 2025.
Nhóm dẫn đầu về GII 2026 ít biến động. Thụy Sĩ đứng thứ nhất với 66,7 điểm, duy trì vị trí số một năm thứ 16 liên tiếp; tiếp theo là Thụy Điển (63,2 điểm) và Hoa Kỳ (62,3 điểm). Hàn Quốc đứng thứ tư, Singapore thứ năm. Các vị trí từ sáu đến mười lần lượt thuộc về Vương quốc Anh, Hà Lan, Phần Lan, Đan Mạch và Trung Quốc. Trung Quốc, xếp thứ 10, là nền kinh tế thu nhập trung bình duy nhất trong nhóm dẫn đầu. Trong bảng xếp hạng, các nước châu Âu chiếm 14 trong 25 vị trí đầu.
Nhìn dưới góc độ mức thu nhập, bảng xếp hạng cho thấy khoảng cách giữa các nền kinh tế đang phát triển và nhóm đi đầu vẫn đáng kể. Ấn Độ xếp thứ 38, dẫn đầu nhóm thu nhập trung bình thấp; Việt Nam đứng thứ hai trong nhóm này[1]. WIPO ghi nhận Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Ma-rốc và Indonesia thuộc những nền kinh tế thu nhập trung bình tiến bộ mạnh về thứ hạng từ năm 2013.
Tuy nhiên, tiến bộ ở sản xuất, xuất khẩu và tiếp cận vốn khởi nghiệp không đồng nghĩa mọi nền tảng khoa học, nghiên cứu và phát triển (R&D) đều đã hội tụ với nhóm thu nhập cao. GII giúp nhìn thấy cả vị trí tương đối trên thế giới lẫn cấu trúc bên trong của năng lực đổi mới sáng tạo.
Việt Nam thăng hạng nhưng đầu vào còn khoảng cách
Việt Nam đạt 37,7 điểm và đứng thứ 43/139 trong GII 2026. Thứ hạng chung của Việt Nam là 59 năm 2016, tăng lên 47 năm 2017, 42 năm 2019 và 2020, sau đó dao động ở vị trí 44 năm 2021, 48 năm 2022, 46 năm 2023, 44 trong hai năm 2024-2025, trước khi lên 43 năm 2026.
Như vậy, so với mốc 2016, vị trí năm nay cao hơn 16 bậc; chuỗi số liệu cho thấy xu hướng cải thiện dài hạn có những năm chững hoặc lùi, chứ không phải tăng đều hằng năm (bảng 1).
Bảng 1. Xếp hạng chỉ số GII của Việt Nam 2016-2026.

Sự cải thiện năm 2026 chủ yếu gắn với đầu ra. Thứ hạng đầu ra từ 37 năm 2025 lên 35 năm 2026; trong đó trụ cột sản phẩm tri thức và công nghệ từ 39 lên 35. Ngược lại, trụ cột sản phẩm sáng tạo từ 34 xuống 35. Về đầu vào, thứ hạng từ 50 xuống 54.
Trong 5 trụ cột đầu vào, thể chế từ 59 xuống 64, nguồn nhân lực và nghiên cứu từ 70 xuống 79, cơ sở hạ tầng từ 56 xuống 59, trình độ phát triển của doanh nghiệp từ 45 xuống 48, còn trình độ phát triển của thị trường giữ ở vị trí 43. So sánh này không phủ nhận tiến bộ ở nhiều chỉ số riêng, nhưng cho thấy sự cải thiện chưa đồng đều giữa các nền tảng.
WIPO nhận xét Việt Nam là một trong những nền kinh tế có đầu ra vượt mức đầu vào: thứ hạng đầu ra 35 so với đầu vào 54. Báo cáo cũng xếp Việt Nam trong số các nền kinh tế có kết quả đổi mới sáng tạo vượt mức kỳ vọng theo trình độ phát triển trong 16 năm liên tiếp.
Trong khối ASEAN, Singapore đứng thứ 5 toàn cầu, Malaysia thứ 34, Việt Nam thứ 43 và Thái Lan thứ 44; tiếp theo là Philippines (52), Indonesia (55), Campuchia (93), Brunei (98), Lào (108) và Myanmar (125).
Việt Nam đứng thứ ba trong các nước ASEAN được xếp hạng, sau Singapore và Malaysia; khoảng cách với Thái Lan chỉ một bậc và 0,1 điểm GII. Năm 2025, Việt Nam xếp thứ 44 còn Thái Lan thứ 45; năm nay cả hai cùng tăng một bậc. Malaysia giữ vị trí 34, Singapore giữ vị trí 5, trong khi Philippines từ 50 xuống 52.

Ở cấp chỉ số thành phần, Việt Nam có hai vị trí số một thế giới: tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao trong tổng giao dịch thương mại và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Tỷ trọng nhập khẩu công nghệ cao xếp thứ ba; số lượt tải ứng dụng điện thoại di động tính theo GDP sức mua tương đương xếp thứ năm; tốc độ tăng năng suất lao động xếp thứ sáu.
Báo cáo cũng ghi nhận tỷ lệ chi R&D do doanh nghiệp trang trải đứng thứ 13, tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân trên GDP thứ 14, mức thuế bình quân gia quyền thứ 15 và mức độ đa dạng sản xuất trong nước thứ 19. Các vị trí về xuất khẩu phản ánh cơ cấu thương mại trong cách đo của GII; riêng chúng chưa đủ chứng minh tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa hay mức tự chủ công nghệ.
Một số cải thiện cụ thể cho thấy chuyển động ở cả hạ tầng, thị trường và liên kết. Truy cập công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) tăng 11 bậc, lên vị trí 66; sản lượng điện trên một triệu dân tăng năm bậc, lên 66; số chứng chỉ ISO 14001 tính theo GDP sức mua tương đương tăng năm bậc, lên 47. Chỉ số tài chính cho khởi nghiệp và mở rộng quy mô tăng sáu bậc, lên 44; hợp tác đại học - doanh nghiệp tăng bảy bậc, lên 24. Mức độ phức tạp của sản xuất và xuất khẩu tăng tám bậc, lên 44; đơn đăng ký sáng chế theo nước xuất xứ tăng ba bậc, lên 63; đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp theo nước xuất xứ tăng ba bậc, lên 48. Đây là thứ hạng của từng chỉ số, không phải mức tăng tuyệt đối của số đơn hay lượng sản phẩm.
Báo cáo GII 2026 cũng cho thấy một số tồn tại. Chất lượng quy định pháp luật dù tăng bốn bậc vẫn đứng thứ 91; hiệu quả thực thi pháp luật đứng thứ 81. Chi cho giáo dục tính theo tỷ lệ GDP xếp thứ 112, tỷ lệ học sinh trên giáo viên trung học thứ 106, tỷ lệ tuyển sinh đại học thứ 87 và tỷ lệ sinh viên nước ngoài học tập trong nước thứ 111. Việc làm trong các ngành thâm dụng tri thức chỉ đứng thứ 100, trong khi nhóm lao động có kiến thức trong doanh nghiệp đứng thứ 85. Đây là những dấu hiệu cho thấy kết quả thương mại và sản xuất cần được hậu thuẫn bằng đầu tư con người dài hạn.
Ở mảng nghiên cứu và lan tỏa tri thức, số bài báo khoa học và kỹ thuật tính theo GDP sức mua tương đương xếp thứ 106; tiền bản quyền tác giả, lệ phí và giấy phép trong tổng giao dịch thương mại thứ 110; xuất khẩu dịch vụ ICT thứ 103, nhập khẩu dịch vụ ICT thứ 134. Nhóm bền vững sinh thái đứng thứ 71; tỷ lệ nguồn năng lượng phát thải carbon thấp đứng thứ 77.
Có thể thấy GII 2026 ghi nhận năng lực chuyển một số đầu vào thành sản phẩm, đặc biệt trong sản xuất và thương mại, nhưng đồng thời chỉ ra khoảng cách về nghiên cứu nền tảng, nhân lực, thể chế và dịch vụ tri thức.
Làm gì để tiếp tục cải thiện trong bản xếp hạng GII?
Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đặt mục tiêu GII thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo. Từ vị trí 43 hiện nay, mục tiêu gần nhất đòi hỏi tiến thêm ít nhất ba bậc. Từ thứ hạng của của Việt Nam trong bảng xếp hạng GII 2026, thiết nghĩ, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để có thể tiếp tục thăng hạng vào các năm tiếp theo:
Một là, cần theo dõi những chỉ số yếu bằng dữ liệu gốc, cơ quan chịu trách nhiệm và mốc đánh giá rõ ràng. Với thể chế, ưu tiên tính dễ dự đoán của quy định và hiệu quả thực thi, nhất là các thủ tục liên quan đến nghiên cứu, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và thành lập doanh nghiệp từ kết quả nghiên cứu. Những thay đổi cần được đánh giá bằng thời gian, chi phí tuân thủ và mức độ sử dụng chính sách của doanh nghiệp, viện, trường; tránh coi việc ban hành thêm văn bản là kết quả cuối cùng.

Hai là, tăng đầu tư cho R&D gắn với năng lực của các nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và doanh nghiệp. Để việc đầu tư tạo tác động trong nước, cần quan tâm đến vị trí của nhà nghiên cứu Việt Nam trong hợp tác với nhà cung ứng nội địa, quyền đối với kết quả nghiên cứu và khả năng phát triển sản phẩm tại Việt Nam. Chỉ tăng quy mô dự án chưa bảo đảm tăng năng lực làm chủ công nghệ.
Ba là, xử lý khoảng cách nhân lực theo cả chiều rộng và chiều sâu. Thứ hạng thấp của chi giáo dục, việc làm thâm dụng tri thức và nhân lực nghiên cứu trong doanh nghiệp gợi ý cần củng cố giáo dục phổ thông, đào tạo đại học và đào tạo trong công việc. Các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu có thể tăng chương trình hợp tác với doanh nghiệp, đào tạo sau đại học gắn với bài toán công nghệ cụ thể, hỗ trợ nhóm nghiên cứu liên ngành. Doanh nghiệp cũng cần lộ trình tuyển dụng, đào tạo và giữ chân người làm nghiên cứu, để tri thức không chỉ dừng ở cơ sở đào tạo.
Bốn là, thiết kế tài chính cho khởi nghiệp theo đặc thù của công nghệ. Chỉ số tài chính cho khởi nghiệp có cải thiện, nhưng nhóm đầu tư mạo hiểm vẫn tụt hạng. Những dự án dựa trên nghiên cứu thường cần thời gian thử nghiệm, chứng nhận và tiếp cận thị trường dài hơn sản phẩm số thông thường. Các công cụ như đồng đầu tư, quỹ vốn mồi, hỗ trợ kiểm chứng công nghệ và cơ chế mua sắm thử nghiệm có thể được cân nhắc trên cơ sở đánh giá rủi ro, công khai tiêu chí và đo kết quả sau hỗ trợ. Chủ đề của GII 2026 nhấn mạnh khâu chuyển hóa khoa học thành doanh nghiệp; đó cũng là khâu Việt Nam cần xây dựng năng lực tổ chức và nguồn vốn phù hợp.
Năm là, chuyển thế mạnh xuất khẩu thành năng lực tạo giá trị nội địa. Hai chỉ số xuất khẩu đứng đầu là lợi thế đáng chú ý, nhưng những thứ hạng thấp về bản quyền, dịch vụ ICT và việc làm tri thức cho thấy dư địa phát triển các hoạt động thiết kế, phần mềm, nghiên cứu và tài sản trí tuệ. Hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, tiếp nhận và cải tiến công nghệ, đăng ký và khai thác quyền sở hữu trí tuệ có thể giúp giữ lại nhiều giá trị hơn.
Cùng với đó, cần phát triển cụm liên kết giữa doanh nghiệp, viện, trường và địa phương theo lĩnh vực có năng lực thực tế, thay vì nhân rộng mô hình giống nhau ở mọi nơi./.
(Tổng hợp từ Global Innovation Index 2026: Powering entrepreneurs at the frontier of science, báo cáo GII 2026)
[1] Từ ngày 1/7/2026, Ngân hàng Thế giới đã chuyển Việt Nam sang nhóm thu nhập trung bình cao, dựa trên GNI bình quân đầu người năm 2025. Tuy nhiên, GII 2026 vẫn ghi Việt Nam thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp vì bảng so sánh theo nhóm thu nhập của WIPO dùng phân loại từ tháng 7/2025.