Giống lúa mang đa gen nâng cao khả năng kháng bệnh bạc lá tại Nghệ An
Sau 2 năm triển khai, mô hình trồng thử nghiệm giống lúa DT82 mang tổ hợp 3 gen kháng bệnh bạc lá Xa4, Xa7, Xa21 tại Nghệ An cho thấy khả năng sinh trưởng ổn định, không ghi nhận bệnh bạc lá trong cả 3 vụ sản xuất. Mô hình đạt năng suất bình quân 6,34 tấn/ha, tổng sản lượng 95,52 tấn trên diện tích 15 ha.
Ứng dụng giống mang đa gen để giảm rủi ro bệnh bạc lá
Ngày 23/9/2026, tại Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Nghệ An, Hội đồng KH&CN tỉnh đã tổ chức nghiệm thu dự án “Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng mô hình trồng thử nghiệm giống lúa mang đa gen (Xa4, Xa7, Xa21) kháng bệnh bạc lá tại Nghệ An”.
Dự án do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ chủ trì, TS. Lê Văn Trường làm chủ nhiệm.
Trong những năm gần đây, bệnh bạc lá đã xuất hiện và diễn biến phức tạp tại các tỉnh Bắc Trung bộ, trong đó có Nghệ An. Báo cáo kết quả điều tra, giai đoạn 2020 - 2023 trên địa bàn tỉnh Nghệ An bệnh bạc lá gây hại trên lúa trong cả vụ Xuân và vụ Hè thu.
Ở vụ Xuân, bệnh thường phát sinh gây hại vào giai đoạn cuối vụ (vào thời kỳ lúa làm đòng đến trỗ chín), sau những cơn giông đầu mùa hè, kèm theo gió lớn là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh lây lan nhanh, gây hại nặng…
Nhiều biện pháp khác nhau được áp dụng để phòng chống bệnh trong đó sử dụng giống kháng đã có nhiều tác động, mang lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ được môi trường. Các giải pháp kỹ thuật mới về giống và quy trình canh tác kèm theo này cần được nghiên cứu và thử nghiệm.
Từ yêu cầu thực tiễn này, Sở KH&CN Nghệ An giao Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ chủ trì thực hiện dự án “Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng mô hình trồng thử nghiệm giống lúa mang đa gen (Xa4, Xa7, Xa21) kháng bệnh bạc lá tại Nghệ An”, nhằm giảm thiểu rủi ro do thiên tai dịch hại, giúp người dân giảm chi phí phân bón/thuốc bảo vệ thực vật, giảm ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất và phát triển sản xuất lúa theo hướng an toàn, bền vững.
Dự án được triển khai từ tháng 9/2024 đến tháng 9/2026 với mục tiêu là xây dựng mô hình trồng thử nghiệm giống DT82 mang 3 gen kháng Xa4, Xa7, Xa21 trên quy mô 15 ha; hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiện Nghệ An. Đồng thời đào tạo, tập huấn cho cán bộ kỹ thuật và nông dân về quy trình sản xuất giống lúa này.

Tại buổi nghiệm thu, chủ nhiệm dự án đã báo cáo kết quả nghiên cứu về xây dựng mô hình trồng thử nghiệm giống lúa mang đa gen (Xa4, Xa7, Xa21) kháng bệnh bạc lá tại Nghệ An.
Dự án đã hoàn thành công tác điều tra, khảo sát hiện trạng sản xuất lúa, lựa chọn được địa điểm và các hộ dân tham gia xây dựng mô hình cũng như đánh giá được điều kiện tự nhiên, cơ cấu giống, kỹ thuật canh tác, tình hình sâu bệnh hại và những khó khăn trong sản xuất.
Cụ thể, mô hình được triển khai tại các địa bàn thuộc Diễn Châu và Yên Thành trước đây, tương ứng với các xã Tân Châu, Quảng Châu, Yên Thành, Quang Đồng và Đông Thành hiện nay. Qua ba vụ sản xuất gồm Xuân 2025, Hè Thu 2025 và Xuân 2026, giống DT82 cho thấy khả năng thích ứng tương đối ổn định.
Theo kết quả theo dõi, chiều cao cây cuối cùng của DT82 dao động từ 96,5 - 109,5 cm; số nhánh đạt 7,1 - 7,5 nhánh/cây. Độ thoát cổ bông và độ cứng cây đều đạt điểm 1 tại các điểm triển khai. Những đặc điểm này góp phần hạn chế nguy cơ đổ ngã trong điều kiện mưa, gió cuối vụ, đồng thời tạo thuận lợi cho thâm canh và cơ giới hóa.
Đáng chú ý, kết quả theo dõi sâu bệnh trong cả ba vụ cho thấy bệnh bạc lá không xuất hiện tại tất cả các điểm và thời vụ của mô hình. Một số đối tượng sâu bệnh khác có xuất hiện nhưng mức độ gây hại nhìn chung thấp. Riêng sâu cuốn lá dao động ở mức điểm 1-3; bệnh đạo ôn và khô vằn cũng không gây thiệt hại lớn đến sinh trưởng của cây lúa.
Việc không ghi nhận bệnh bạc lá trong toàn bộ các vụ và địa điểm theo dõi là kết quả đáng chú ý của mô hình, bởi đây chính là đối tượng dịch hại mà dự án hướng tới. Báo cáo cho rằng đặc tính này có liên quan đến tổ hợp gen kháng Xa4, Xa7 và Xa21 của giống DT82, qua đó tạo lợi thế trong những vùng sản xuất có nguy cơ bệnh bạc lá cao.
Năng suất bình quân cao hơn mức bình quân lúa thuần toàn tỉnh
Khả năng chống chịu bệnh được thể hiện đồng thời với sự ổn định về các yếu tố cấu thành năng suất. Trong ba vụ, số bông/m² của DT82 dao động từ 278-289 bông; số hạt/bông đạt 155-168 hạt; tỷ lệ hạt chắc từ 73,5-77,8%; khối lượng 1.000 hạt khá ổn định, từ 22,9-23,2 g. Năng suất thực thu tại các điểm đạt từ 5,91-6,59 tấn/ha.
Cụ thể, vụ Xuân 2025 năng suất đạt 6,35-6,55 tấn/ha; vụ Hè Thu 2025 đạt 5,91-6,05 tấn/ha; vụ Xuân 2026 đạt 6,56-6,59 tấn/ha. Tính chung 3 vụ, năng suất bình quân của mô hình đạt 6,34 tấn/ha, cao hơn mức bình quân 6,19 tấn/ha của toàn tỉnh trong cùng thời gian, tương đương khoảng 2,42%.
Kết quả cho thấy việc đưa giống DT82 vào mô hình không chỉ hướng tới khả năng kháng bệnh mà còn cho năng suất và hiệu quả kinh tế tương đối ổn định qua các vụ sản xuất.

Mặt khác, một trong những tác động đáng chú ý của việc sử dụng giống có khả năng kháng bệnh là giảm áp lực phòng trừ bệnh bằng thuốc hóa học. Theo báo cáo, nhờ khả năng kháng bệnh bạc lá và chống chịu khá với các đối tượng sâu bệnh, số lần phun thuốc phòng trừ bệnh trong mô hình giảm từ mức trung bình khoảng 4 lần/vụ xuống còn khoảng 2 lần/vụ. Điều này góp phần giảm chi phí và công lao động, đồng thời hạn chế tác động của thuốc bảo vệ thực vật đối với người sản xuất và hệ sinh thái đồng ruộng.
Hướng tới nhân rộng mô hình
Không chỉ dừng ở việc đánh giá giống trên đồng ruộng, dự án còn tập trung hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh DT82 phù hợp với điều kiện sinh thái của Nghệ An. Quy trình bao gồm các nội dung về thời vụ, gieo cấy, quản lý dinh dưỡng, nước tưới, cỏ dại, sâu bệnh và thu hoạch.
Quá trình triển khai đã tổ chức 2 lớp tập huấn cho 50 người, gồm 10 cán bộ kỹ thuật và 40 nông dân. Kết quả đánh giá của dự án cho thấy các học viên nắm được quy trình kỹ thuật sản xuất lúa thương phẩm DT82.
Ngày 23/4/2026, tại xã Quảng Châu và xã Đồng Thành, dự án đã tổ chức hội thảo tham quan, đánh giá mô hình với sự tham gia của hơn 50 đại biểu từ các cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu, chính quyền địa phương, đơn vị thực hiện và người dân tham gia mô hình. Qua đánh giá thực tế, các đại biểu ghi nhận DT82 có khả năng sinh trưởng phù hợp với điều kiện sản xuất tại Nghệ An, cây cứng, chống đổ tốt và không ghi nhận bệnh bạc lá trong mô hình.
Bên cạnh kết quả kỹ thuật, dự án cũng hình thành sự phối hợp giữa cơ quan nghiên cứu, cán bộ kỹ thuật địa phương và nông dân trong quá trình chuyển giao và áp dụng quy trình sản xuất.
Trên cơ sở kết quả theo dõi và đánh giá tại đồng ruộng, dự án đề xuất tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất thử DT82 trong các vụ tiếp theo tại Nghệ An, ưu tiên những vùng thường xuyên phát sinh bệnh bạc lá, đồng thời xem xét khả năng nhân rộng mô hình tới các địa phương có điều kiện sinh thái tương đồng ở Bắc Trung Bộ.
Ứng dụng khoa học công nghệ để giải quyết bài toán cụ thể của sản xuất
Dự án đã xây dựng thành công mô hình trồng thử nghiệm giống lúa mang đa gen (Xa4, Xa7, Xa21) kháng bạc lá, góp phần giảm thiểu rủi ro do thiên tai dịch hại, đảm bảo đa dạng sinh học, ổn định năng suất, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích và phát triển bền vững sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Điểm đáng chú ý của dự án không chỉ nằm ở việc đưa một giống lúa mang tổ hợp gen kháng bệnh vào đồng ruộng, mà còn ở quá trình kiểm chứng công nghệ trong điều kiện sản xuất thực tế, hoàn thiện quy trình canh tác và chuyển giao cho người dân..
Kết quả 3 vụ sản xuất cho thấy DT82 duy trì năng suất bình quân 6,34 tấn/ha, đạt tổng sản lượng 95,52 tấn trên 15 ha và không ghi nhận bệnh bạc lá tại các điểm theo dõi. Kết quả đạt được của dự án là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện quy trình kỹ thuật và nhân rộng giống lúa có khả năng kháng bệnh, góp phần phát triển sản xuất lúa an toàn, hiệu quả và bền vững trên địa bàn tỉnh.
Ở góc độ rộng hơn, mô hình cho thấy hướng tiếp cận sử dụng tiến bộ KH&CN ngay từ khâu lựa chọn giống, kết hợp với quy trình canh tác phù hợp, có thể góp phần giảm rủi ro dịch bệnh, giảm đầu vào hóa học và nâng cao tính ổn định của sản xuất lúa. Đây cũng là hướng phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng tiết kiệm vật tư, thích ứng với điều kiện bất thuận và nâng cao hiệu quả trên đơn vị diện tích./.