Tuyên Quang nâng cao nhận thức và kỹ năng số từ cơ sở
Chuyển đổi số chỉ tạo ra giá trị khi người dân hiểu, tin tưởng và có khả năng sử dụng công nghệ trong những việc cụ thể. Tại Tuyên Quang, mạng lưới tổ công nghệ số cộng đồng, phong trào “Bình dân học vụ số”, dịch vụ công trực tuyến và các cuộc thi tìm hiểu đang tạo thêm cơ hội để người dân tiếp cận kỹ năng số. Tuy nhiên, các kết quả hiện có cũng cho thấy cần chuyển trọng tâm từ tuyên truyền rộng sang hỗ trợ theo nhu cầu, đo lường năng lực thực hành và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.
Những chỉ dấu về mức độ chuyển đổi số
Tuyên Quang đang thúc đẩy chuyển đổi số trên cả ba trụ cột: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Một chỉ dấu có thể tham khảo là Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI). Tuyên Quang xếp thứ 38 trong 63 tỉnh, thành phố ở DTI năm 2023, tăng 10 bậc so với năm 2022 [1]. Kết quả này phản ánh bước tiến về tổ chức thực hiện, hạ tầng, nền tảng và hoạt động số trong giai đoạn trước khi địa giới hành chính của tỉnh thay đổi.
Ở góc độ phục vụ người dân, hệ thống thủ tục hành chính trực tuyến tiếp tục được mở rộng. Toàn tỉnh hiện có 2.190 thủ tục hành chính phục vụ người dân và doanh nghiệp, trong đó có 1.413 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và 786 dịch vụ công trực tuyến một phần [2]. Đây là điều kiện quan trọng để người dân giảm thời gian đi lại, theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ và thanh toán trên môi trường số. Tuy nhiên, số lượng dịch vụ được cung cấp chưa đồng nghĩa với tỷ lệ người dân có thể tự thực hiện. Khả năng tìm đúng thủ tục, đăng nhập bằng tài khoản định danh điện tử, tải thành phần hồ sơ, ký số hoặc thanh toán trực tuyến mới là thước đo gần hơn với trải nghiệm thực tế.
Dữ liệu về định danh điện tử cho thấy, nền tảng tiếp cận đã được mở rộng. Đến cuối tháng 10/2025, Tuyên Quang có 1.022.022 công dân từ 14 tuổi trở lên kích hoạt tài khoản định danh điện tử mức độ 2, đạt 73,14% [3]. Con số này phản ánh quy mô người dân đã có công cụ để sử dụng nhiều tiện ích số. Dù vậy, “đã kích hoạt” và “sử dụng thành thạo” là hai mức độ khác nhau. Muốn đánh giá nhận thức và hành vi chuyển đổi số, tỉnh cần theo dõi thêm tần suất sử dụng, tỷ lệ hoàn thành giao dịch, nguyên nhân bỏ dở và mức độ hài lòng của từng nhóm dân cư.
Nhận thức được hình thành qua trải nghiệm cụ thể
Trong điều kiện địa bàn rộng, nhiều khu vực miền núi, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức về chuyển đổi số khó có thể nâng lên chỉ bằng khẩu hiệu hoặc tài liệu phổ biến chung. Người dân thường hình thành niềm tin khi công nghệ giúp giải quyết một nhu cầu dễ nhận thấy: nộp hồ sơ hành chính, nhận thông báo, thanh toán, tra cứu thông tin, khám chữa bệnh, học tập hoặc quảng bá sản phẩm, v.v. Vì vậy, cách làm “cầm tay chỉ việc” của tổ công nghệ số cộng đồng có ý nghĩa đặc biệt.
Trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, Tuyên Quang đã thành lập 1.871 tổ công nghệ số cộng đồng, gồm 138 tổ cấp xã và 1.733 tổ tại thôn, bản, tổ dân phố, với 10.257 thành viên [4]. Sau khi hình thành tỉnh Tuyên Quang mới, quy mô mạng lưới được công bố cuối năm 2025 là 3.926 tổ với hơn 20.250 thành viên [5]. Điều này cho thấy tỉnh đã lựa chọn lực lượng hỗ trợ tại chỗ làm cầu nối giữa nền tảng số và người sử dụng.
Mô hình tổ chức mới quy định mỗi xã, phường có một tổ công nghệ số cộng đồng với tối đa 10 thành viên; mỗi thôn, tổ dân phố có một tổ tối đa 5 người. Thành viên có thể là cán bộ, giáo viên, công an viên, nhân viên y tế, đại diện đoàn thể, doanh nghiệp viễn thông - công nghệ thông tin và người dân có kỹ năng số [6]. Cơ cấu này tạo thuận lợi vì người hướng dẫn hiểu địa bàn, ngôn ngữ giao tiếp và nhu cầu của cộng đồng. Ở Bắc Quang, một lớp tập huấn tháng 4/2026 có hơn 175 học viên đến từ 55 thôn [7], cho thấy hoạt động bồi dưỡng đã đi vào nhóm trực tiếp hỗ trợ người dân tại cơ sở.
Một số người dân từ chỗ bỡ ngỡ đã có thể sử dụng điện thoại thông minh, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và các tiện ích số sau khi được hướng dẫn trực tiếp [8]. Đây là minh chứng mang tính định tính đáng chú ý về sự thay đổi nhận thức. Tuy nhiên, những câu chuyện điển hình cần được bổ sung bằng số liệu về nhóm tuổi, dân tộc, khu vực cư trú, thiết bị, kết nối Internet và khả năng tự hoàn thành thao tác sau khi được hỗ trợ.
Phổ biến kiến thức và phổ cập kỹ năng
Phong trào “Bình dân học vụ số” tạo khung hành động để đưa kiến thức số đến đông đảo người dân. Kế hoạch triển khai của Tỉnh ủy đặt mục tiêu phấn đấu ít nhất 80% người dân trong độ tuổi trưởng thành được xác nhận đạt phổ cập tri thức về chuyển đổi số và kỹ năng số trên nền tảng VNeID [9]. Mục tiêu này nhấn mạnh yêu cầu xác nhận kết quả học tập, thay vì chỉ thống kê số lượt tuyên truyền hoặc số người tham dự.

Trong năm 2026, tỉnh tiếp tục đa dạng hóa hình thức truyền thông. Quyết định số 241/QĐ-BTC ngày 13/9/2026 ban hành Thể lệ Cuộc thi trực tuyến “Công dân Tuyên Quang với chuyển đổi số”. Cuộc thi diễn ra từ 9 giờ ngày 25/9 đến 23 giờ 59 phút ngày 1/10/2026; người dự thi trả lời 25 câu hỏi trắc nghiệm và một câu hỏi phụ trong tối đa 30 phút. Nội dung bao gồm chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; kỹ năng sử dụng nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, an toàn thông tin và ứng dụng trí tuệ nhân tạo [10].
Tỉnh Tuyên Quang cũng phát động cuộc thi trực tuyến tìm hiểu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cách thiết kế nội dung cuộc thi cho thấy nhận thức số đang được hiểu theo hướng rộng hơn kiến thức về chủ trương. Người dân cần biết cách vận dụng công nghệ và bảo vệ mình trong môi trường số. Việc kết hợp cuộc thi với hỗ trợ trực tiếp là cần thiết. Thể lệ cuộc thi cho phép dùng máy tính, điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng có kết nối Internet; đồng thời hoạt động phát động yêu cầu phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng trong hướng dẫn người cao tuổi, người dân vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số [11]. Như vậy, cuộc thi vừa là kênh truyền thông, vừa có thể trở thành dịp nhận diện những nhóm cần hỗ trợ. Giá trị lớn nhất không nằm ở số bài dự thi, mà ở khả năng chuyển kiến thức trong câu hỏi thành thao tác an toàn trong đời sống.
Những khoảng trống cần nhận diện đúng
Thực trạng hiện nay cho thấy Tuyên Quang đã có mạng lưới hỗ trợ rộng, nhiều nền tảng và mục tiêu phổ cập rõ ràng. Tuy nhiên, dữ liệu công khai vẫn thiên về đầu vào và quy mô triển khai: số tổ, số thành viên, số tài khoản được kích hoạt, số dịch vụ hoặc số lượt dự thi. Các chỉ số này rất cần thiết, nhưng chưa trả lời đầy đủ ba câu hỏi: người dân hiểu gì về chuyển đổi số; họ có thái độ tin tưởng, sẵn sàng sử dụng đến đâu; và họ có thể tự thực hiện những hành vi số nào.
Khoảng cách số cũng không chỉ bắt nguồn từ việc thiếu thiết bị. Người cao tuổi có thể gặp khó trong ghi nhớ quy trình; người dân vùng sóng yếu khó duy trì giao dịch; người ít sử dụng tiếng Việt phổ thông cần nội dung trực quan hoặc hỗ trợ bằng ngôn ngữ phù hợp; người từng gặp lừa đảo có thể e ngại cung cấp thông tin trên môi trường số. Mặt khác, sử dụng thường xuyên nhưng thiếu kỹ năng bảo mật cũng chưa phải là chuyển đổi số an toàn. Bởi vậy, đánh giá nhận thức cần đi cùng các chỉ báo về kỹ năng, niềm tin và quản trị rủi ro.
Hạ tầng vẫn là điều kiện nền tảng. Các chương trình của tỉnh đang hướng tới xóa dần “vùng lõm sóng”; trong 5 tháng đầu năm 2026, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức 18 lớp tập huấn, bồi dưỡng về chuyển giao công nghệ và chuyển đổi số tại 45 xã, phường, đồng thời hỗ trợ tổ công nghệ số cộng đồng của 16 xã [12]. Số lớp và địa bàn được hỗ trợ cho thấy nỗ lực mở rộng năng lực cơ sở, nhưng hiệu quả nên được kiểm chứng bằng kết quả trước và sau tập huấn, chẳng hạn tỷ lệ học viên tự hướng dẫn lại cho người dân hoặc tỷ lệ giao dịch số hoàn thành không cần trợ giúp.
Đưa người dân vào trung tâm của quá trình chuyển đổi
Muốn chuyển đổi số diễn ra hiệu quả, thực chất, trước hết, tỉnh cần xây dựng bộ chỉ báo đo lường nhận thức và kỹ năng số của người dân theo từng nhóm. Khảo sát nên tách ba mức: biết về tiện ích số; có thể thực hiện khi được hướng dẫn; và có thể tự thực hiện an toàn. Một số thao tác có thể dùng để kiểm tra thực hành gồm đăng nhập VNeID, tìm dịch vụ công, nộp hồ sơ, thanh toán, nhận biết đường dẫn giả mạo, thiết lập mật khẩu mạnh và kiểm soát quyền truy cập ứng dụng. Kết quả cần phân tích theo tuổi, giới, dân tộc, địa bàn và điều kiện kết nối để chính sách không dựa trên số trung bình che lấp nhóm yếu thế.
Thứ hai, hoạt động của tổ công nghệ số cộng đồng nên được tổ chức theo nhu cầu phát sinh tại từng thôn, tổ dân phố. Danh mục hỗ trợ có thể ưu tiên những việc người dân sử dụng thường xuyên, mỗi buổi hướng dẫn chỉ tập trung vào một hoặc hai thao tác và dành thời gian để người học tự làm lại. Sau một khoảng thời gian, tổ cần quay lại kiểm tra khả năng sử dụng độc lập. Chính sách hỗ trợ tổ công nghệ số cộng đồng giai đoạn 2026-2030 theo Nghị quyết số 10/2026/NQ-HĐND đã tạo cơ sở để duy trì lực lượng này [13]; bước tiếp theo là gắn hỗ trợ với chất lượng phục vụ và kết quả học tập của cộng đồng.
Thứ ba, mọi chương trình phổ cập phải đặt an toàn số ngang với khả năng sử dụng. Người dân cần được hướng dẫn không cung cấp mã xác thực, không cài ứng dụng từ đường dẫn không rõ nguồn gốc, kiểm tra tài khoản nhận tiền và biết kênh báo cáo khi gặp dấu hiệu lừa đảo. Các tình huống thực tế tại địa phương nên được chuyển thành câu hỏi, video ngắn hoặc buổi thực hành. Cách truyền thông này dễ nhớ hơn những cảnh báo chung và giúp củng cố niềm tin vào dịch vụ số chính thống.
Cuối cùng, dữ liệu về trải nghiệm của người dân cần được sử dụng để cải tiến dịch vụ. Cơ quan cung cấp dịch vụ công nên theo dõi những bước thường gây lỗi, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung và thời gian người dân cần trợ giúp. Phản hồi của tổ công nghệ số cộng đồng có thể trở thành nguồn thông tin trực tiếp để đơn giản hóa giao diện, câu chữ và quy trình. Khi người dân hoàn thành được giao dịch một cách thuận tiện và an toàn, nhận thức tích cực sẽ được hình thành từ chính trải nghiệm, bền vững hơn so với tuyên truyền một chiều.
Tuyên Quang đã tạo được nền tảng quan trọng gồm mạng lưới hỗ trợ ở cơ sở, phong trào phổ cập kỹ năng, hệ thống dịch vụ trực tuyến và các hoạt động truyền thông có quy mô. Giai đoạn tiếp theo cần chuyển từ đếm mức độ tham gia sang đo khả năng sử dụng độc lập; từ cung cấp công cụ sang cải thiện trải nghiệm; từ phổ biến kiến thức chung sang hỗ trợ đúng nhóm, đúng việc. Đây là cách để chuyển đổi số trở thành năng lực hằng ngày của người dân và đóng góp thực chất cho chính quyền số, kinh tế số, xã hội số của tỉnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2025), “Tuyên Quang tăng 10 bậc trên bảng xếp hạng về Chuyển đổi số (DTI)”, 06/02/2025, https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/tuyen-quang-tang-10-bac-tren-bang-xep-hang-ve-chuyen-doi-so-dti?type=NEWS&id=137773, truy cập ngày 17/9/2026
[2] Cổng thông tin điện tử xã Minh Thanh, tỉnh Tuyên Quang (2026), “Tận tụy, trách nhiệm phục vụ Nhân dân”, https://minhthanh.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/tan-tuy-trach-nhiem-phuc-vu-nhan-dan, truy cập ngày 17/9/2026.
[3] Hải Đăng (2025), “Hơn 1 triệu công dân kích hoạt tài khoản định danh điện tử mức độ 2”, Báo Tuyên Quang, 30/10/2025, https://baotuyenquang.com.vn/xa-hoi/202510/hon-1-trieu-cong-dan-kich-hoat-tai-khoan-dinh-danh-dien-tu-muc-do-2-5eb5875/, truy cập ngày 17/9/2026.
[4] Thanh tra tỉnh Tuyên Quang (2023), “Nỗ lực thực hiện chuyển đổi số ở Tuyên Quang”, https://thanhtra.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/no-luc-thuc-hien-chuyen-doi-so-o-tuyen-quang?id=94398&type=NEWS, truy cập ngày 17/9/2026.
[5] Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2025b), “Quyết liệt thực hiện chuyển đổi số trên cả 3 trụ cột trong năm 2026”, https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/quyet-liet-thuc-hien-chuyen-doi-so-tren-ca-3-tru-cot-trong-nam-2026?id=183175&type=NEWS, truy cập ngày 17/9/2026.
[6] Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2025c), “Tuyên Quang triển khai Tổ công nghệ số cộng đồng cấp xã, thôn: Đưa công nghệ đến từng người dân”, https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/tuyen-quang-trien-khai-to-cong-nghe-so-cong-dong-cap-xa-thon-dua-cong-nghe-den-tung-nguoi-dan?id=150552&type=NEWS, truy cập ngày 17/9/2026.
[7] Cổng thông tin điện tử xã Bắc Quang, tỉnh Tuyên Quang (2026), “Bắc Quang tập huấn tổ công nghệ số cộng đồng”, https://bacquang.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/bac-quang-tap-huan-to-cong-nghe-so-cong-dong?id=226593&type=NEWS, truy cập ngày 17/9/2026.
[8] Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2026), “Tổ công nghệ số cộng đồng: Động lực lan tỏa chuyển đổi số từ cơ sở”, https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/to-cong-nghe-so-cong-dong-dong-luc-lan-toa-chuyen-doi-so-tu-co-so?id=248413&type=NEWS, truy cập ngày 17/9/2026.
[9] Tỉnh ủy Tuyên Quang (2025), Kế hoạch số 47-KH/TU ngày 09/9/2025 triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” trên địa bàn tỉnh.
[10] Ban Tổ chức các cuộc thi trực tuyến tỉnh Tuyên Quang (2026), Quyết định số 241/QĐ-BTC ngày 13/9/2026 ban hành Thể lệ Cuộc thi trực tuyến “Công dân Tuyên Quang với chuyển đổi số” năm 2026, https://khodulieu.sohoa.tuyenquang.gov.vn/congthongtin/media/e73b0ecbe47a398f03adec8f4cec8eeb.pdf, truy cập ngày 17/9/2026.
[11] Cổng thông tin điện tử Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Tuyên Quang (2026), “Phát động các cuộc thi trực tuyến tìm hiểu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, https://stttt.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/phat-dong-cac-cuoc-thi-truc-tuyen-tim-hieu-ve-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so?id=257390&type=NEWS, truy cập ngày 17/9/2026.
[12] Cổng thông tin điện tử Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang (2026), “Tuyên Quang bứt phá bằng chuyển đổi số: Biến điện thoại thành nông cụ, người dân làm giàu từ nền tảng số”, https://skhcn.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/tuyen-quang-but-pha-bang-chuyen-doi-so-bien-dien-thoai-thanh-nong-cu-nguoi-dan-lam-giau-tu-nen-tang-so?id=234922&type=NEWS, truy cập ngày 17/9/2026.
[13] HĐND tỉnh Tuyên Quang (2026), Nghị quyết số 10/2026/NQ-HĐND ngày 22/4/2026 quy định chính sách hỗ trợ Tổ công nghệ số cộng đồng giai đoạn 2026-2030, https://hoaan.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/chinh-sach-ho-tro-to-cong-nghe-so-cong-dong-tren-dia-ban-tinh-tuyen-quang-giai-doan-2026-2030?id=226246&type=NEWS, truy cập ngày 17/9/2026.