TP.HCM: Số hóa công tác dân tộc, hướng tới hỗ trợ đúng nhu cầu
TP.HCM đang đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) và chuyển đổi số (CĐS) vào công tác dân tộc, từ số hóa dữ liệu, hỗ trợ tiếp cận dịch vụ công, đến đưa sản phẩm lên môi trường trực tuyến, nhằm đưa chính sách đến gần người dân hơn và phân bổ nguồn lực đúng với nhu cầu thực tế.
Đưa công nghệ đến gần cộng đồng
TP.HCM hiện có hơn 570.000 đồng bào thuộc 53 dân tộc sinh sống, học tập và làm việc trên địa bàn. Mỗi cộng đồng, mỗi khu vực có đặc điểm sinh kế khác nhau, từ nông nghiệp, nghề biển đến kinh doanh, thương mại, dịch vụ và các nghề gắn với văn hóa truyền thống. Sự đa dạng này đòi hỏi chính sách phải ngày càng sát với từng nhóm đối tượng, trong đó công nghệ có thể hỗ trợ cả khâu cung cấp thông tin lẫn tổ chức thực hiện.
Những năm qua, Thành phố triển khai nhiều chính sách chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Riêng năm 2026, Thành phố đặt mục tiêu đào tạo trên 4.200 lao động, ưu tiên việc làm phi nông nghiệp phù hợp với quá trình đô thị hóa.
Trên nền tảng đó, CĐS đang mở thêm phương thức để chính sách đến gần người dân hơn, không chỉ là đầu tư hạ tầng công nghệ mà còn là đổi mới cách truyền tải, tiếp cận thông tin. Các chính sách được chuyển tải qua video ngắn, infographic, hướng dẫn từng bước; tùy đặc điểm cộng đồng có thể dùng nội dung song ngữ Việt - Hoa, Việt - Khmer, Việt - Chăm. Các nhóm Zalo cộng đồng cũng trở thành kênh kết nối, giúp người dân tiếp cận thông tin nhanh, thuận tiện hơn.
Đáng chú ý, 1.171 người có uy tín trong đồng bào DTTS cùng lực lượng thanh niên và các Tổ công nghệ số cộng đồng đang góp phần đưa công nghệ vào đời sống, hỗ trợ người dân thực hiện những thao tác thiết thực như dùng định danh điện tử, tài khoản trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, chữ ký số và thủ tục trực tuyến.

Dữ liệu số để chính sách sát nhu cầu
Một hướng đi quan trọng tiếp theo là xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ công tác dân tộc. Thành phố đang rà soát, làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu về đồng bào DTTS, hướng tới kết nối với kho dữ liệu dùng chung và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông, việc xác minh thông tin có thể thực hiện tự động ở những khâu phù hợp, giảm yêu cầu người dân phải nhiều lần cung cấp cùng một loại giấy tờ. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục rà soát, tái cấu trúc các thủ tục thiết yếu như hỗ trợ giáo dục, bảo hiểm y tế, vay vốn ưu đãi, giảm bớt các bước trung gian và việc đi lại, bổ sung hồ sơ nhiều lần.
Cùng với dữ liệu, giao diện dịch vụ công cũng cần được thiết kế đơn giản, trực quan, dễ hiểu. Thành phố đang nghiên cứu các hình thức hỗ trợ bằng hình ảnh, giọng nói để những người ít có điều kiện tiếp cận công nghệ thực hiện các thao tác số thuận lợi hơn.
Điểm đáng chú ý là dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý mà còn có thể trở thành nền tảng để thay đổi cách thiết kế chính sách. Thay vì hỗ trợ theo một phương thức chung, dữ liệu giúp cơ quan quản lý nhận diện đặc điểm, nhu cầu của từng nhóm, từng hộ gia đình.
Hiện toàn Thành phố có 16.448 hộ nghèo và cận nghèo, chiếm 0,44% tổng số hộ dân. Trong đó có 70 hộ nghèo và 776 hộ cận nghèo có thành viên là người DTTS, tương ứng khoảng 0,4% tổng số hộ đồng bào DTTS trên địa bàn.
Theo hướng giảm nghèo đa chiều, hộ cần vốn thì tập trung hỗ trợ vốn; hộ thiếu việc làm thì ưu tiên đào tạo nghề, kết nối việc làm; hộ gặp khó khăn về y tế thì tập trung hỗ trợ tương ứng. Khi đó, dữ liệu trở thành cơ sở để chuyển từ tư duy “hỗ trợ chung” sang “hỗ trợ đúng nhu cầu”.
Theo ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo TP.HCM, Thành phố đang chuyển từ tư duy “hỗ trợ” sang “kiến tạo sinh kế”. Hiệu quả chính sách vì vậy không chỉ đo bằng kinh phí đã bố trí hay số hồ sơ đã giải quyết, mà phải nhìn vào thu nhập, mức độ hài lòng và khả năng tự chủ của từng hộ gia đình.

KHCN gắn với sinh kế và thị trường
Sự khác biệt về điều kiện sống, sinh kế giữa các cộng đồng cho thấy việc ứng dụng công nghệ cần gắn với đặc điểm cụ thể của từng địa bàn. Cộng đồng người Hoa tập trung tại khu vực Chợ Lớn, Bình Tây (các quận 5, 6, 10, 11 trước đây) với thế mạnh lâu đời về kinh doanh, buôn bán. Ở xã Phú Giáo, 281 hộ với 1.116 nhân khẩu người Khmer sinh sống chủ yếu tại Tân Thịnh, Nước Vàng, nhiều lao động đã được đào tạo nghề may mặc, cắt tóc, chăm sóc cây kiểng, nấu ăn.
Tại xã Long Hải, 120 hộ với 560 nhân khẩu người Khmer sống bằng nghề biển, làm thuê, buôn bán nhỏ. Ở xã Minh Thạnh, cộng đồng Chăm tập trung tại ấp Hòa Lộc với sinh kế đa dạng: trồng cao su, điều, mì, làm công nhân, buôn bán, dịch vụ; còn tại phường Chánh Hưng, cộng đồng Chăm Islam quanh Dương Bá Trạc chủ yếu buôn bán nhỏ, chế biến món ăn Halal truyền thống.
Ở phía Đông Thành phố, đồng bào Châu Ro sinh sống tại các xã Bàu Lâm, Kim Long, Châu Pha, Đất Đỏ…, đời sống gắn với nông nghiệp; một số nơi đang khai thác thêm nông sản, ẩm thực, dệt thổ cẩm, cồng chiêng để phát triển du lịch cộng đồng.
Từ những khác biệt đó, việc nắm dữ liệu từng địa bàn, từng hộ trở thành cơ sở để xác định đúng nhu cầu hỗ trợ. Tháng 4/2026, khảo sát của Sở Dân tộc và Tôn giáo TP.HCM tại xã Long Hải cho thấy thu nhập bình quân của đồng bào Khmer nơi đây chỉ khoảng 3 triệu đồng/người/tháng; người dân đề xuất được hỗ trợ vốn, phương tiện sản xuất để ổn định sinh kế. Từ góc độ CĐS, dữ liệu về từng hộ không chỉ phục vụ quản lý mà còn giúp xác định vấn đề cần hỗ trợ và theo dõi kết quả sau hỗ trợ.
Vốn là một điều kiện quan trọng để hình thành sinh kế ổn định. Từ 1/1/2026, theo Nghị quyết số 71/2025/NQ-HĐND của HĐND TP.HCM, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo trong vòng 36 tháng có thể vay tối đa 200 triệu đồng/hộ từ nguồn ngân sách Thành phố ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội, lãi suất trong hạn 0,5%/tháng.

Tuy nhiên, vốn chỉ là một mắt xích. Nếu thiếu kỹ năng, kiến thức kinh doanh và đầu ra, khoản vay khó trở thành sinh kế bền vững. Vì vậy, KHCN và CĐS cần được đặt trong mối liên hệ với đào tạo nghề, phát triển sản xuất và kết nối thị trường. Kế hoạch số 320/KH-UBND ngày 25/6/2026 của UBND TP.HCM về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS giai đoạn 2026-2030 dành một hợp phần riêng cho vùng đồng bào DTTS, từ hỗ trợ sản xuất, tạo sinh kế đến phát triển nguồn nhân lực và CĐS. Với học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS, Kế hoạch số 318/KH-UBND giai đoạn 2026-2031 cũng xác định phát triển sinh kế bền vững qua sản xuất nông nghiệp, Chương trình OCOP, gắn sản xuất theo chuỗi giá trị với chất lượng, CĐS và thị trường tiêu thụ.
Thời gian tới TP.HCM tiếp tục hoàn thiện nền tảng dữ liệu số về đồng bào DTTS, kết nối với kho dữ liệu dùng chung và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, làm cơ sở theo dõi đời sống, nhận diện nhu cầu và đánh giá hiệu quả chính sách.
Song song đó là nâng cao kỹ năng số cho người dân, hướng dẫn đơn giản, trực quan, phù hợp từng nhóm; phát huy vai trò người có uy tín, thanh niên, Tổ công nghệ số cộng đồng. Chú trọng kỹ năng dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử, thanh toán không tiền mặt và phòng tránh lừa đảo mạng. Về sinh kế, định hướng là gắn CĐS với thị trường: từng bước đưa hộ gia đình, hợp tác xã, cơ sở sản xuất tiếp cận thương mại điện tử, chuẩn hóa sản phẩm và nâng khả năng cung ứng.
KHCN và CĐS không phải một hợp phần tách rời mà là công cụ xuyên suốt công tác dân tộc: dữ liệu giúp nhận diện đúng nhu cầu, công nghệ rút ngắn khoảng cách tiếp cận chính sách, kỹ năng số giúp người dân chủ động nắm bắt cơ hội, còn nền tảng số mở thêm không gian sản xuất, kinh doanh và quảng bá văn hóa. Đây là cơ sở để TP.HCM từng bước chuyển từ “hỗ trợ” sang “tạo cơ hội”, giúp chính sách sát thực tế hơn và mở thêm cơ hội phát triển bền vững cho đồng bào DTTS./.