Lịch sử và văn hóa Việt Nam - Hàn Quốc: Tiếp biến di sản, ký ức và tầm nhìn đương đại
Hội thảo khoa học quốc tế “Giao lưu Lịch sử và Văn hóa Việt Nam - Hàn Quốc: Tiếp biến di sản, ký ức và tầm nhìn đương đại” diễn ra mới đây đã mở ra một không gian đối thoại từ khảo cổ học, văn hiến và lịch sử ngoại giao đến quản trị di sản, hòa giải, công nghiệp văn hóa và giáo dục đại học.
Các hiện vật khảo cổ khẳng định mạng lưới giao lưu khu vực
Quan hệ hai nước Việt Nam - Hàn Quốc không chỉ được tạo nên bởi hợp tác hiện tại, mà còn có một nền tảng lịch sử - văn hóa cần tiếp tục được nghiên cứu, giải thích và chuyển hóa thành nguồn lực phát triển.
Tại hội thảo “Giao lưu Lịch sử và Văn hóa Việt Nam - Hàn Quốc: Tiếp biến di sản, ký ức và tầm nhìn đương đại” được Trường Đại học (ĐH) Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV), ĐH Quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện Nghiên cứu Lịch sử Quốc gia Hàn Quốc tổ chức ngày 18/9/2026, tại Hà Nội, GS.TS. Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, nhấn mạnh Việt Nam và Hàn Quốc cùng thuộc không gian văn minh Đông Á, chia sẻ nhiều giá trị về Nho giáo, Phật giáo, khoa cử và thư tịch.
-bf07156fac1dcd5bae6c46986fcad9a4.jpg)
Theo ông, các mảnh gốm Triều Tiên tại Hoàng thành Thăng Long, những cuộc gặp gỡ và xướng họa giữa sứ thần, cũng như sự hiện diện của dòng họ Lý Hoa Sơn trên bán đảo Triều Tiên là các dấu ấn vật chất và văn hiến cho thấy quan hệ giữa hai dân tộc có chiều sâu lịch sử.
Ở hướng tiếp cận khảo cổ học, TS. Nguyễn Văn Anh, Trưởng Khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia Hà Nội và ThS. Nguyễn Thị Hồng Lê, Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam giới thiệu nhóm gốm sứ có nguồn gốc từ Triều Tiên được phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long.
Trong khối lượng rất lớn di vật qua nhiều đợt khai quật, nhóm hiện vật này tuy ít về số lượng nhưng có giá trị gợi mở về sự lưu chuyển của sản phẩm, kỹ thuật và thị hiếu trong khu vực. Năm mảnh gốm men ngọc Goryeo, chủ yếu có niên đại thế kỷ XIII-XIV, được tìm thấy ở khu vực trung tâm của kinh đô thời Lý - Trần, đặt ra câu hỏi về hành trình đưa những sản phẩm cao cấp này tới Đại Việt.
GS. Heo In-uk, ĐH Quốc gia Jeonbuk đã mở rộng việc nghiên cứu quan hệ Cao Ly - Việt Nam ra ngoài câu chuyện quen thuộc về Lý Long Tường. Việc khảo sát chính sử, văn tập và thơ văn cho thấy khả năng kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua mạng lưới thương mại hàng hải Đông Á và Đông Nam Á. Các cảng miền Nam Trung Quốc, hoạt động của thương nhân, sự lưu thông hàng hóa và những cuộc tiếp xúc trong không gian ngoại giao của các triều đại Trung Hoa tạo nên nhiều tầng trung gian giữa hai quốc gia.
Cũng từ dòng họ Hoa Sơn Lý, GS. Cho Jeong-gon, nghiên cứu viên cao cấp Viện Nghiên cứu Hàn Quốc học, khai thác hai văn bản phân chia tài sản lập năm 1567 và 1595 để khảo sát nền tảng kinh tế của gia tộc tại Phụng Hóa. Những ghi chép về ruộng đất, nô tỳ và cách phân chia tài sản giúp lịch sử một dòng họ hiện lên trong đời sống cụ thể, thay vì chỉ gắn với nhân vật thủy tổ. Tư liệu còn cho thấy tác động của chiến tranh đến gia đình và vai trò của phụ nữ trong duy trì sinh kế, chăm lo thế hệ kế tiếp.
Theo GS. Yoon Sung-yeon, ĐH Ngoại ngữ Hankuk, quan hệ hai nước Việt Nam - Hàn Quốc trong thế kỷ XVI-XVIII được hình thành từ quá trình hình thành nhận thức tương hỗ. Khi chưa có quan hệ ngoại giao trực tiếp thường xuyên, hiểu biết về nhau được tích lũy qua chiếu chỉ, báo cáo sứ thần, nghi lễ triều cống, sách phong và những cuộc gặp của các đoàn sứ tại Bắc Kinh hoặc Nhiệt Hà.
Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng trật tự khu vực không chỉ vận hành theo một trục dọc đơn giản, mà là mạng lưới nhiều tầng, nơi các chủ thể vừa chia sẻ chuẩn mực văn hóa, vừa theo đuổi lợi ích và cách kiến tạo tính chính thống riêng.
Di sản chỉ bền vững khi tiếp tục sống trong cộng đồng
Nghiên cứu của TS. Đỗ Thị Hương Thảo, Khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia Hà Nội chỉ ra các lựa chọn khác nhau, từ phục hồi diện mạo theo tinh thần nguyên gốc đến bảo tồn giá trị và sáng tạo truyền thống. Trường hợp Văn miếu Mao Điền và Văn miếu Vĩnh Phúc cho thấy việc bản địa hóa đối tượng thờ tự, điều chỉnh công năng trưng bày có thể góp phần nối lại những đứt gãy văn hóa và đưa di tích gần hơn với công chúng.
Một phép đối sánh khác được TS. Nguyễn Ngọc Minh và TS. Trần Thị Lan, Khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia Hà Nội thực hiện giữa làng cổ Hahoe của Hàn Quốc và làng cổ Đường Lâm của Việt Nam.
Từ khung lý thuyết về di sản sống, các tác giả đặt cộng đồng cư dân vào vị trí chủ thể. Kinh nghiệm của Hahoe cho thấy quản trị hợp tác giữa Nhà nước và cộng đồng, cơ chế đại diện rõ ràng, việc gắn bảo tồn với sinh kế và chia sẻ lợi ích là những điều kiện quan trọng để di sản duy trì sức sống. Đối với Đường Lâm, bài toán không chỉ là giữ kiến trúc hay cảnh quan, mà còn phải giải quyết hài hòa nhu cầu sống chính đáng của người dân.
Chuyển hóa nguồn lực văn hóa cho phát triển
Nếu khảo cổ học và sử học giúp nhận diện các lớp liên hệ trong quá khứ, những tham luận cuối chương trình đặt trọng tâm vào năng lực chuyển hóa kinh nghiệm và nguồn lực văn hóa.
TS. Nguyễn Thị Hoài Phương và NCS. Hoàng Thị Hà Phương, Trường ĐH KHXH&NV phân tích chiến lược của TP. Hải Phòng hướng tới xây dựng thành phố sáng tạo trong lĩnh vực âm nhạc, đồng thời tham chiếu kinh nghiệm của Daegu, Hàn Quốc. Trường hợp Daegu cho thấy một hệ sinh thái âm nhạc cần sự liên kết giữa đào tạo, sáng tác, biểu diễn, sản xuất, phân phối, lễ hội, hoạt động cộng đồng và giao lưu quốc tế.
Từ góc nhìn giáo dục, TS. Hoàng Thị Hồng Nga, Trường ĐH KHXH&NV so sánh vai trò của giáo dục ĐH trong chiến lược phát triển của Việt Nam và Hàn Quốc. Hai quốc gia có những điểm tương đồng về truyền thống hiếu học và quá trình tiếp nhận mô hình ĐH phương Tây, nhưng mỗi bên đã nội sinh hóa mô hình đó theo điều kiện văn hóa, thể chế và mục tiêu phát triển riêng.
Kinh nghiệm Hàn Quốc gợi mở vai trò của chính sách nhà nước, khu vực đại học tư thục, tự chủ đại học và hệ thống bảo đảm chất lượng trong việc tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa và kinh tế tri thức.
Theo GS.TS. Hoàng Anh Tuấn, chiều sâu hiểu biết văn hóa - lịch sử cần trở thành bệ đỡ cho hợp tác kinh tế trong bối cảnh quan hệ hai nước đã được nâng lên Đối tác chiến lược toàn diện./.