Truyền thông

Luật học Việt Nam trước yêu cầu kiến tạo thể chế trong kỷ nguyên mới

VVH 20/09/2026 13:34

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, tài sản số và giao dịch xuyên biên giới làm xuất hiện nhiều quan hệ mới, khoa học pháp lý cần đổi mới phương pháp nghiên cứu, đào tạo và cơ chế chuyển giao tri thức để đồng hành hiệu quả hơn với phát triển đất nước.

Nhìn lại nửa thế kỷ phát triển của luật học Việt Nam

Ngày 19/9/2026, tại Hà Nội, Trường Đại học (ĐH) Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) tổ chức Diễn đàn Luật học mùa Thu lần thứ 6 với chủ đề “Luật học Việt Nam: Nửa thế kỷ thành tựu và xu hướng phát triển trong kỷ nguyên mới”.

Sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 50 năm truyền thống của Nhà trường (1976-2026), quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý và những người hoạt động thực tiễn pháp luật. Từ góc nhìn của nhiều chuyên ngành, diễn đàn cùng nhận diện những đóng góp của luật học đối với quá trình xây dựng đất nước, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, đồng thời thảo luận những yêu cầu mới đối với nghiên cứu, đào tạo và tư vấn chính sách.

Phát biểu tại Diễn đàn, PGS.TS. Nguyễn Tiến Vinh, Hiệu trưởng Trường ĐH Luật, ĐHQGHN cho rằng việc tổng kết chặng đường phát triển của luật học không chỉ nhằm ghi nhận thành tựu, mà còn để xác định trách nhiệm và hướng đi tiếp theo.

PGS. TS. Nguyen Tien Vinh
PGS.TS. Nguyễn Tiến Vinh: Tổng kết chặng đường phát triển của luật học không chỉ nhằm ghi nhận thành tựu, mà còn để xác định trách nhiệm và hướng đi tiếp theo. (Ảnh: VNU-Media).

Trong năm Nhà trường kỷ niệm 50 năm truyền thống với chủ đề “Vun bồi truyền thống, lan tỏa tinh hoa”, diễn đàn là không gian kết nối ký ức học thuật với những vấn đề đang hình thành trong thực tiễn. Mục tiêu được đặt ra là xây dựng môi trường đề cao tự do học thuật, liêm chính khoa học và khả năng chuyển hóa tri thức pháp lý thành đóng góp cụ thể cho đất nước.

Phiên toàn thể tập trung vào tiến trình phát triển của luật học Việt Nam, từ giai đoạn xây dựng nền móng đến đổi mới tư duy và mở rộng nghiên cứu chuyên sâu, liên ngành.

GS.TS. Phạm Hồng Thái, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Luật học nhận định phạm vi quan tâm của khoa học pháp lý ngày càng mở rộng, trong đó có quyền con người, kiểm soát quyền lực và những vấn đề của xã hội số. Sự phát triển đó đòi hỏi luật học không dừng ở giải thích hoặc hệ thống hóa quy phạm, mà phải tham gia nghiên cứu thể chế, đánh giá chính sách và dự báo những quan hệ mới có thể tác động đến đời sống xã hội.

Ong Thai
GS.TS. Phạm Hồng Thái: Phạm vi quan tâm của khoa học pháp lý ngày càng mở rộng. (Ảnh: VNU-Media)

Từ phương diện nền tảng tư tưởng và phương pháp luận, GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế, Trường ĐH Luật, ĐHQGHN nhấn mạnh yêu cầu vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa luật học thế giới.

Theo bà, đổi mới hoạt động xây dựng pháp luật phải đi cùng hiệu quả thi hành; bảo đảm sự cân bằng giữa đổi mới sáng tạo (ĐMST) và ổn định, giữa quản lý nhà nước và bảo vệ quyền con người. Một hành lang pháp lý công bằng, khả thi cần được hình thành trên tinh thần khuyến khích phát triển, khắc phục cách tiếp cận máy móc theo hướng không quản lý được thì cấm.

GS.TS. Lê Minh Tâm, Trường ĐH Luật Hà Nội cho rằng khoa học pháp lý cơ bản đã góp phần làm phong phú các cách tiếp cận về quyền con người, giá trị pháp luật và văn hóa pháp luật. Tuy nhiên, năng lực nghiên cứu thực chứng và liên ngành vẫn cần được củng cố.

Ông đề xuất hướng tới một nền khoa học pháp lý hiện đại, tự chủ về tri thức, có khả năng dự báo; ưu tiên chương trình nghiên cứu quốc gia đến năm 2045, phát triển trung tâm và nhóm nghiên cứu mạnh, đổi mới đào tạo, mở rộng hợp tác quốc tế. Trong định hướng này, dữ liệu được xem là hạ tầng thiết yếu để nghiên cứu, đánh giá chính sách, thiết kế và vận hành thể chế.

Từ giải thích pháp luật đến dự báo và thiết kế thể chế

Bối cảnh phát triển mới đang làm thay đổi nhanh đối tượng và phương thức nghiên cứu của luật học. AI, dữ liệu lớn, tài sản số, giao dịch xuyên biên giới và các mô hình kinh doanh mới tạo ra những quan hệ xã hội mà khuôn khổ pháp luật hiện hành có thể chưa dự liệu đầy đủ.

Theo PGS.TS. Nguyễn Tiến Vinh, khoa học pháp lý cần nâng cao năng lực dự báo, phát hiện sớm vấn đề và đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đây cũng là cơ sở để Trường ĐH Luật, ĐHQGHN thực hiện mục tiêu phát triển theo định hướng nghiên cứu xuất sắc và từng bước đạt trình độ quốc tế trong lĩnh vực pháp luật.

GS.TSKH. Đào Trí Úc, nguyên Chủ nhiệm Khoa Luật (nay là Trường ĐH Luật, ĐHQGHN) đề nghị mở rộng trọng tâm nghiên cứu, chuyển từ chủ yếu giải thích và hoàn thiện pháp luật sang khảo sát thực tiễn và kiến tạo thể chế cho kinh tế số, xã hội số. Để thực hiện được yêu cầu này, phương pháp nghiên cứu truyền thống cần kết hợp với điều tra thực chứng, nghiên cứu liên ngành và phân tích dữ liệu.

Năng lực đánh giá tác động, dự báo và cung cấp bằng chứng cho hoạch định chính sách phải trở thành một phần quan trọng của hoạt động khoa học pháp lý. Các vấn đề liên quan đến AI, quyền lực dữ liệu, nhà nước số và tư pháp số cần được nhận diện sớm, qua đó tìm kiếm cơ chế vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, vừa kiểm soát rủi ro.

Cùng quan điểm coi dữ liệu và bằng chứng thực tiễn là nền tảng của thiết kế thể chế, GS.TS. Phan Trung Lý, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội gợi mở việc hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành về pháp luật, AI, dữ liệu và kinh tế số tại Trường ĐH Luật, ĐHQGHN.

Hoạt động nghiên cứu cần kết nối chặt hơn với cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và đối tác quốc tế; đồng thời có cơ chế đặt hàng, đánh giá chính sách độc lập và đầu tư cho nhà khoa học trẻ. Khi các kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành phương án chính sách hoặc giải pháp thể chế cụ thể, khoảng cách giữa tri thức hàn lâm và yêu cầu quản trị thực tiễn sẽ từng bước được thu hẹp.

GS.TS. Võ Khánh Vinh, nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đề xuất phát triển “năng lực luật học quốc gia”. Khái niệm này gắn với khả năng tạo lập, kiểm chứng và chuyển hóa tri thức pháp lý phục vụ phát triển đất nước.

Theo đó, khoa học pháp lý cần làm tốt hơn việc phát hiện vấn đề, dự báo xu hướng, phản biện độc lập và cung cấp luận cứ tin cậy cho các quyết định chính sách. Về dài hạn, tự chủ học thuật, phương pháp nghiên cứu hiện đại, hạ tầng dữ liệu, năng lực thực chứng và hội nhập quốc tế là những điều kiện quan trọng để luật học thực hiện vai trò kiến tạo thể chế.

Đổi mới đào tạo luật trước tác động của AI

Sự phát triển của AI không chỉ tạo thêm đối tượng điều chỉnh cho pháp luật mà còn tác động trực tiếp đến cách dạy, học và hành nghề luật.

PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh đề xuất đưa kiến thức về dữ liệu, quản trị rủi ro và đạo đức công nghệ vào chương trình đào tạo; gắn học tập với thực hành công nghệ pháp lý và nghiên cứu chính sách. AI có thể được sử dụng như một công cụ để sinh viên kiểm tra lập luận, phản biện, phát hiện sai sót pháp lý hoặc nhận diện vấn đề đạo đức. Tuy nhiên, việc đánh giá người học cần tiếp tục coi trọng quá trình tư duy độc lập, không chỉ dựa vào sản phẩm cuối cùng.

Yêu cầu cốt lõi là sử dụng công nghệ có trách nhiệm. Dù công cụ có thể hỗ trợ tìm kiếm, xử lý và tổng hợp lượng thông tin lớn, hoạt động pháp lý vẫn phải lấy công lý, đạo đức nghề nghiệp, sự thấu cảm và phẩm giá con người làm nền tảng. Vì vậy, đào tạo luật trong kỷ nguyên AI cần đồng thời phát triển năng lực số và khả năng phán đoán nghề nghiệp. Người học phải biết kiểm tra độ tin cậy của thông tin, nhận diện thiên lệch, bảo vệ dữ liệu và chịu trách nhiệm đối với quyết định chuyên môn của mình.

PGS.TS. Ngô Huy Cương, Trường ĐH Luật, ĐHQGHN nhấn mạnh vai trò của luật so sánh như một phương thức tư duy pháp lý trong bối cảnh mới. Nghiên cứu pháp luật nước ngoài không nên dừng ở việc tập hợp quy định, mà cần phân tích nguyên nhân và ý nghĩa của sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật. Cách tiếp cận này giúp nâng cao chất lượng xây dựng, giải thích và áp dụng pháp luật; đồng thời tạo cơ sở cho hài hòa hóa pháp luật và tìm kiếm lời giải chung đối với những vấn đề toàn cầu do AI đặt ra.

38-dsc06658.jpg
Các đại biểu tham gia Hội thảo. (Ảnh: VNU-Media).

Gắn nghiên cứu chuyên sâu với những vấn đề của thực tiễn

Sau phiên toàn thể, năm phiên chuyên đề được tổ chức đồng thời, bao quát khoa học pháp lý cơ bản; luật hiến pháp và luật hành chính; luật tư; luật hình sự và tố tụng hình sự; luật quốc tế.

Cấu trúc này cho thấy yêu cầu đổi mới không chỉ đặt ra đối với một lĩnh vực riêng lẻ. Từ quyền con người, kiểm soát quyền lực, quyền tài sản, quan hệ lao động và an sinh xã hội đến tài chính công, cải cách tư pháp và nguồn nhân lực tư pháp, mỗi chuyên ngành đều cần vừa tiếp tục làm rõ nền tảng lý luận, vừa giải quyết các vấn đề cụ thể của đời sống pháp lý.

Trong lĩnh vực luật quốc tế, các tham luận quan tâm đến luật biển, thương mại và đầu tư quốc tế, biến đổi khí hậu, giao dịch xuyên biên giới trên môi trường số và đào tạo nhân lực pháp lý phục vụ hội nhập.

Nếu giai đoạn trước đặt trọng tâm vào tiếp nhận và thích ứng với các chuẩn mực quốc tế, yêu cầu hiện nay là nâng cao năng lực tham gia, đóng góp và chủ động kiến tạo. Điều đó đòi hỏi đội ngũ luật gia không chỉ am hiểu pháp luật trong nước và quốc tế, mà còn có năng lực ngoại ngữ, tư duy so sánh, kỹ năng đàm phán và khả năng xử lý những vấn đề liên ngành./.

VVH