Khoa học - Công nghệ

Ninh Bình tổ chức lại không gian nông nghiệp, khai thác lợi thế từng tiểu vùng

L.H 18/09/2026 09:07

Ninh Bình đang định hình lại không gian sản xuất nông nghiệp theo đặc điểm tự nhiên, sinh thái và lợi thế kinh tế của từng khu vực. Cách tiếp cận theo 4 tiểu vùng gồm đồng bằng, trung du, rừng và du lịch sinh thái, ven biển được kỳ vọng tạo các vùng sản xuất chuyên biệt, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ và phát triển nông nghiệp xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Không phát triển nông nghiệp theo một hình chung

Trong quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2026-2030, Ninh Bình xác định việc tổ chức không gian sản xuất cần được đặt trên cơ sở lợi thế riêng của từng khu vực thay vì phát triển dàn trải.

Định hướng này dựa trên sự khác biệt về địa hình, đất đai, nguồn nước, điều kiện khí hậu, hệ sinh thái và khả năng kết nối thị trường. Từ đó, tỉnh từng bước hình thành những vùng sản xuất có quy mô phù hợp, chuyên môn hóa cao hơn và gắn với các chuỗi giá trị cụ thể.

437-202609171601531.png
Vùng đồng bằng được định hướng trở thành trung tâm sản xuất nông nghiệp hàng hóa, chất lượng cao của Ninh Bình.

Theo Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2026-2030, không gian nông nghiệp được định hướng theo 4 tiểu vùng. Mỗi khu vực đảm nhiệm một nhóm chức năng chủ yếu, song không tồn tại độc lập mà được kết nối thông qua sản xuất, chế biến, logistics, thương mại, du lịch và các dịch vụ hỗ trợ.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng sản lượng mà nâng giá trị trên một đơn vị diện tích, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm tác động đến môi trường. Đây cũng là hướng tiếp cận nhằm tăng khả năng chống chịu của sản xuất trước biến đổi khí hậu, thiên tai và những thay đổi của thị trường.

Đồng bằng hướng tới vùng sản xuất hàng hóa quy lớn

Với diện tích khoảng 85.000-90.000 ha, vùng đồng bằng được xác định là không gian sản xuất nông nghiệp hàng hóa chủ lực của Ninh Bình.

Lợi thế của khu vực này nằm ở quỹ đất sản xuất tương đối tập trung cùng hệ thống thủy lợi đã được đầu tư. Đây là điều kiện thuận lợi để hình thành những vùng chuyên canh, cánh đồng quy mô lớn và các khu sản xuất ứng dụng công nghệ cao.

Trong lĩnh vực trồng trọt, lúa tiếp tục giữ vai trò quan trọng, nhưng định hướng phát triển có sự chuyển dịch từ chú trọng sản lượng sang chất lượng và giá trị. Các vùng lúa hàng hóa, lúa chất lượng cao, lúa hữu cơ được tổ chức gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu và phát triển chỉ dẫn địa lý. Cùng với lúa, rau màu, cây thực phẩm và nhóm cây ngắn ngày được bố trí phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh cũng như các thị trường đô thị lân cận.

Điểm quan trọng trong định hướng mới là vùng nguyên liệu không được phát triển tách rời khỏi thị trường. Sản xuất cần được kết nối với khâu thu hoạch, bảo quản, xay xát, chế biến và phân phối. Các mô hình cánh đồng lớn, hợp tác xã kiểu mới và liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, nhà khoa học được khuyến khích nhằm nâng cao khả năng tổ chức sản xuất.

Công nghệ số cũng được đưa vào nhiều công đoạn, từ theo dõi quá trình canh tác, quản lý vùng nguyên liệu đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Qua đó, giá trị của nông sản được kỳ vọng không còn phụ thuộc chủ yếu vào khối lượng thu hoạch mà được nâng lên nhờ chất lượng, thương hiệu và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường.

Trung du phát triển nông nghiệp sinh thái, đa dạng sản phẩm

Nếu vùng đồng bằng đóng vai trò trung tâm của nông nghiệp hàng hóa thì khu vực trung du được định hướng theo hướng đa dạng hóa sản phẩm và phát triển nông nghiệp sinh thái.

Với quy mô khoảng 70.000-75.000 ha, vùng trung du gồm Gia Viễn, Yên Mô và Nho Quan, có địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi. Sự đa dạng về địa hình tạo điều kiện để phát triển nhiều nhóm sản phẩm khác nhau. Cây ăn quả là một trong những hướng sản xuất đáng chú ý. Các loại cây như bưởi, cam, nhãn, ổi, chuối được định hướng phát triển theo vùng, từng bước gắn với cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến nhằm kéo dài thời gian tiêu thụ và gia tăng giá trị.

Một hướng khác là mở rộng vùng nguyên liệu cây dược liệu. Thìa canh, đinh lăng, ba kích, nghệ, gừng... có thể được phát triển theo chuỗi từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến, chiết xuất tinh dầu và phục vụ ngành dược phẩm.

Cách tổ chức này giúp giảm tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, đồng thời tạo cơ sở để doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu. Đối với người sản xuất, việc tham gia vùng nguyên liệu và chuỗi liên kết cũng tạo điều kiện tiếp cận quy trình kỹ thuật, giống, vật tư và thị trường ổn định hơn. Chăn nuôi tại khu vực trung du được định hướng phát triển theo mô hình tập trung, kiểm soát dịch bệnh, môi trường và an toàn thực phẩm. Các khâu chăn nuôi, giết mổ, chế biến và tiêu thụ được đặt trong mối liên kết thay vì phát triển riêng lẻ.

Không gian này cũng có dư địa cho nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch trải nghiệm. Cùng với đó là phát triển rừng sản xuất, rừng phòng hộ, cây lâm nghiệp đa mục đích và các mô hình kinh tế dưới tán rừng. Như vậy, giá trị của khu vực trung du không chỉ nằm ở nông sản mà còn ở cảnh quan, hệ sinh thái và khả năng kết hợp giữa nông nghiệp với các hoạt động dịch vụ, du lịch nông thôn.

Giữ giá trị hệ sinh thái tại vùng rừng du lịch sinh thái

Tiểu vùng rừng và du lịch sinh thái có quy mô khoảng 60.000-65.000 ha, bao gồm các khu vực rừng đặc dụng, khu bảo tồn, không gian du lịch sinh thái rừng và hệ thống vùng ngập mặn. Khác với vùng đồng bằng và trung du, mục tiêu tại đây không đặt nặng việc mở rộng sản lượng nông nghiệp. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng bảo tồn hệ sinh thái, cung cấp dịch vụ môi trường và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Định hướng quản lý rừng bền vững, áp dụng các tiêu chuẩn quản lý rừng phù hợp, trong đó có FSC, được đặt ra cùng với yêu cầu bảo vệ và nâng cao giá trị rừng tự nhiên, rừng đặc dụng. Một số mô hình nông - lâm kết hợp, sản xuất hữu cơ dưới tán rừng có thể mở rộng ở những khu vực phù hợp. Đây là hướng vừa tạo thêm nguồn thu cho người dân vùng đệm, vừa góp phần hạn chế áp lực khai thác tài nguyên rừng.

Không gian Cúc Phương - Vân Long - Hoa Lư - Tam Cốc - Bái Đính cùng hệ thống rừng ngập mặn được định hướng tăng cường liên kết để hình thành không gian du lịch sinh thái và nông nghiệp xanh. Theo cách tiếp cận này, rừng không chỉ được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên cần bảo vệ mà còn là nền tảng để phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, du lịch, giáo dục môi trường và những mô hình sinh kế phù hợp.

Ven biển phát triển kinh tế biển gắn với bảo tồn

Vùng ven biển có quy mô khoảng 35.000-40.000 ha, sở hữu hệ thống bãi triều, cửa sông và nguồn tài nguyên nước thuận lợi cho phát triển thủy sản. Định hướng chủ đạo của khu vực là phát triển kinh tế biển tổng hợp, trong đó nuôi trồng và khai thác thủy sản kết hợp với chế biến, logistics và dịch vụ hậu cần nghề cá.

437-202609171601532.png
Vùng ven biển phát triển nuôi trồng thủy sản tập trung, công nghệ cao gắn với chế biến và bảo vệ hệ sinh thái ven biển.

Các vùng nuôi tập trung được định hướng ứng dụng công nghệ cao, từng bước chuyển sang các mô hình nuôi tuần hoàn, kiểm soát môi trường và nuôi sinh thái. Một số đối tượng có giá trị kinh tế như tôm thẻ chân trắng, ngao, hàu, cá bống bớp, cá song được xác định là nhóm sản phẩm có tiềm năng. Song song với nuôi trồng là hiện đại hóa khai thác hải sản xa bờ. Đội tàu, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão và hệ thống dịch vụ hậu cần cần được đầu tư đồng bộ để hình thành chuỗi sản xuất hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, phát triển kinh tế biển được đặt trong giới hạn của khả năng chịu tải hệ sinh thái. Bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn, giữ gìn bãi triều, bảo vệ nguồn lợi thủy sản là những yêu cầu không thể tách rời khỏi phát triển sản xuất. Các mô hình kết hợp thủy sản với du lịch sinh thái biển, trải nghiệm nông nghiệp ven biển cũng được mở ra. Đối với nghề muối truyền thống, định hướng là duy trì những khu vực có lợi thế, đồng thời nâng chất lượng và giá trị sản phẩm thay vì chỉ mở rộng diện tích.

Tổ chức lại sản xuất phải đi cùng hạ tầng thị trường

Việc xác định 4 tiểu vùng mới là tiền đề, nhưng để chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành giá trị kinh tế cần một quá trình tổ chức lại sản xuất đồng bộ.

Trước hết, không gian sản xuất phải được quản lý theo quy hoạch. Việc phát triển tự phát, chạy theo những mô hình đang có giá trên thị trường nhưng không phù hợp điều kiện địa phương có thể dẫn tới dư cung, phá vỡ vùng sản xuất hoặc gây áp lực lên môi trường. Những vùng chăn nuôi tập trung đã hình thành, chẳng hạn các khu vực phát triển bò sữa, chăn nuôi lợn, cần được duy trì và nâng hiệu quả nhưng phải đi kèm yêu cầu về xử lý chất thải, kiểm soát dịch bệnh, an toàn thực phẩm và hạ tầng kỹ thuật.

Cùng với quy hoạch là yêu cầu tích tụ, tập trung đất đai. Quy mô sản xuất đủ lớn sẽ tạo điều kiện áp dụng cơ giới hóa, công nghệ số và các quy trình đồng nhất. Trong quá trình này, hợp tác xã có thể giữ vai trò tổ chức sản xuất, kiểm soát quy trình và chất lượng; doanh nghiệp đảm nhận sâu hơn các khâu cung ứng vật tư, chế biến, bảo quản, phân phối và phát triển thị trường.

Hạ tầng cũng là điều kiện quyết định. Vùng sản xuất tập trung cần được kết nối với hệ thống thủy lợi, giao thông, điện, kho bảo quản, sơ chế, chế biến và logistics. Đối với vùng ven biển, yêu cầu này còn bao gồm hạ tầng nuôi trồng, cảng cá, khu neo đậu, cơ sở sản xuất giống và dịch vụ hậu cần.

Công nghệ phải phù hợp với từng không gian

Một trong những điểm đáng chú ý của định hướng mới là khoa học - công nghệ không được triển khai theo một công thức chung mà cần được lựa chọn dựa trên đặc điểm từng tiểu vùng. Tại đồng bằng, trọng tâm có thể là cơ giới hóa, sản xuất thông minh, số hóa dữ liệu vùng trồng và truy xuất nguồn gốc.

437-202609171601533.png
Cơ giới hóa, ứng dụng khoa học - công nghệ là giải pháp nâng năng suất và giá trị sản xuất nông nghiệp.

Ở trung du, công nghệ giống, kỹ thuật canh tác cây ăn quả, chế biến dược liệu và các quy trình chăn nuôi khép kín có vai trò quan trọng hơn.

Đối với vùng rừng, công nghệ phục vụ giám sát tài nguyên, quản lý rừng, phát triển dịch vụ môi trường rừng và theo dõi hệ sinh thái có ý nghĩa lớn. Trong khi đó, vùng ven biển cần ưu tiên công nghệ kiểm soát chất lượng nước, nuôi tuần hoàn, sản xuất giống, giám sát môi trường và chế biến thủy sản. Chuyển đổi số vì vậy không chỉ là đưa phần mềm vào sản xuất mà phải trở thành công cụ quản lý toàn bộ chuỗi giá trị, từ vùng nguyên liệu đến người tiêu dùng.

Từ lợi thế tự nhiên đến nền nông nghiệp đa giá trị

Một trong những yêu cầu quan trọng nhất của quá trình cơ cấu lại là xác định được thị trường đầu ra cho từng vùng sản xuất.

Lúa hàng hóa cần đi cùng thương hiệu gạo và hệ thống chế biến. Cây ăn quả, dược liệu phải gắn với cơ sở bảo quản và chế biến. Thủy sản cần hình thành chuỗi liên kết từ giống, nuôi trồng, khai thác đến chế biến, logistics và xuất khẩu.

Cùng với thị trường truyền thống, chuyển đổi số có thể hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và quảng bá sản phẩm. Điều này đòi hỏi người nông dân cũng phải thay đổi, từ sản xuất theo kinh nghiệm sang tuân thủ quy trình, ghi chép dữ liệu và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Quan trọng hơn, bốn tiểu vùng cần được nhìn nhận như những mắt xích trong một hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp thống nhất. Đồng bằng đảm nhiệm vai trò sản xuất hàng hóa; trung du tạo không gian cho nông nghiệp sinh thái và đa dạng sản phẩm; vùng rừng cung cấp giá trị bảo tồn, dịch vụ hệ sinh thái và sinh kế xanh; vùng ven biển phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ tài nguyên.

Cách tổ chức này cũng tạo điều kiện để nông nghiệp kết nối với du lịch, công nghiệp chế biến, thương mại và dịch vụ, qua đó mở rộng giá trị tạo ra trên cùng một đơn vị tài nguyên.

Về dài hạn, tổ chức lại không gian sản xuất theo 4 tiểu vùng không đơn thuần là phân chia địa bàn sản xuất. Đây là sự thay đổi về cách tiếp cận: từ khai thác đất đai theo diện tích sang khai thác lợi thế theo vùng; từ sản xuất đơn lẻ sang liên kết chuỗi; từ tăng sản lượng sang gia tăng giá trị và từ phát triển nông nghiệp đơn ngành sang mô hình kinh tế nông nghiệp tích hợp.

Khi từng vùng được lựa chọn đúng sản phẩm, mô hình sản xuất và công nghệ phù hợp, Ninh Bình có thêm cơ sở để phát triển nền nông nghiệp có giá trị cao, sử dụng tài nguyên hiệu quả, giảm phát thải và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu./.

L.H