Nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn mới
Hướng dẫn số 03-HD/ĐU ngày 24/7/2026 của Đảng ủy Chính phủ nhấn mạnh nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, cùng phát triển giữa các dân tộc; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đồng thời yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức tuyên truyền, nhất là trên không gian mạng.
Thực hiện các chỉ thị, kết luận của Ban Bí thư về công tác dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn mới và Hướng dẫn số 29-HD/BTGDVTW ngày 13/7/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, ngày 24/7/2026, Đảng ủy Chính phủ đã ban hành Hướng dẫn số 03-HD/ĐU về quán triệt, tuyên truyền, vận động và lãnh đạo tổ chức thực hiện một số chủ trương của Đảng về công tác dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn mới (Hướng dẫn 03).

Hướng dẫn đặt ra yêu cầu xuyên suốt là quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Cùng với đó là thực hiện nguyên tắc các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Đưa công tác dân tộc, tôn giáo gắn chặt với nhiệm vụ phát triển
Một trong những điểm có thể nhận thấy trong Hướng dẫn số 03 là công tác dân tộc, tôn giáo không được tiếp cận như một lĩnh vực riêng biệt mà được đặt trong mối quan hệ với nhiều nhiệm vụ phát triển và quản trị khác. Từ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại đến xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở đều được xác định có mối liên hệ với việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo.
Theo Hướng dẫn, các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo triển khai có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo. Quá trình thực hiện phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đáng chú ý, công tác dân tộc, tôn giáo phải được gắn với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở.
Trên phương diện đời sống, Hướng dẫn 03 yêu cầu quan tâm đến việc làm, thu nhập và đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, biển đảo và những vùng đặc biệt khó khăn. Mục tiêu đặt ra là góp phần củng cố niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo với Đảng và Nhà nước.
Điều này cho thấy, hiệu quả của công tác dân tộc, tôn giáo cần được thể hiện bằng những vấn đề cụ thể gắn với cuộc sống của người dân. Việc làm, thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sinh hoạt hay an sinh xã hội đều là những vấn đề trực tiếp tác động tới chất lượng cuộc sống. Vì vậy, tuyên truyền, vận động cần đi cùng với việc thực hiện hiệu quả các chính sách và giải quyết những nhu cầu hợp pháp, chính đáng tại cơ sở.
Tinh thần này tiếp tục được cụ thể hóa khi Hướng dẫn 03 yêu cầu chăm lo phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có đông tín đồ tôn giáo; thực hiện hiệu quả chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sinh hoạt và việc làm. Như vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là tuyên truyền chủ trương, chính sách mà còn phải gắn công tác vận động với việc giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Đổi mới tuyên truyền, chú trọng không gian mạng
Một nội dung được nhấn mạnh trong Hướng dẫn 03 là đổi mới phương thức thông tin, tuyên truyền. Theo đó, công tác thông tin, tuyên truyền phải được tiến hành đồng bộ, thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm; bám sát chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo.
Việc triển khai phải bảo đảm các yêu cầu rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ kết quả; đồng thời phù hợp với đặc điểm của từng địa bàn, dân tộc, tôn giáo và tín ngưỡng. Những vấn đề phát sinh cần được kịp thời nhận diện, đánh giá, phân loại và xử lý ngay từ cơ sở.
Yêu cầu “sát địa bàn, sát đối tượng” có ý nghĩa đáng chú ý đối với phương thức truyền thông. Đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, ngôn ngữ cũng như khả năng tiếp nhận thông tin giữa các địa bàn và nhóm dân cư không hoàn toàn giống nhau. Do đó, nội dung và phương thức truyền tải cần phù hợp với đối tượng tiếp nhận thay vì áp dụng một cách thức tuyên truyền đồng nhất.
Các cấp ủy được yêu cầu phối hợp với cấp ủy địa phương để thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về các sự kiện chính trị, xã hội của đất nước; lan tỏa những thông điệp tích cực, người tốt, việc tốt trên mạng xã hội; nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác và khả năng tự bảo vệ của đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, tín đồ tôn giáo và quần chúng nhân dân. Thông qua đó, công tác tuyên truyền góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, văn hóa truyền thống của dân tộc; đồng thời khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế và vươn lên thoát nghèo bền vững.
Đặc biệt, Hướng dẫn đặt ra yêu cầu chủ động đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, vận động, nhất là tuyên truyền trên không gian mạng. Thông tin cần được thể hiện theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với địa bàn và đối tượng. Các hình thức trực tiếp và trực tuyến cần được kết hợp; đồng thời phát huy vai trò của báo chí, thông tin cơ sở, mạng xã hội và tiếng dân tộc ở những nơi cần thiết.
Cùng với việc chủ động cung cấp thông tin chính xác, Hướng dẫn yêu cầu đấu tranh, phản bác những luận điệu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Có thể thấy, không gian mạng được đặt trong cùng một hệ thống truyền thông với báo chí và thông tin cơ sở. Điều này đòi hỏi công tác tuyên truyền vừa bảo đảm tính chính xác, vừa chú ý đến cách thức thể hiện và khả năng tiếp cận từng nhóm đối tượng. Thông tin chính thống cần được cung cấp chủ động và kịp thời, thay vì chỉ xử lý khi vấn đề đã phát sinh.
Phát huy giá trị văn hóa, nguồn lực của các dân tộc và tôn giáo
Bên cạnh phát triển kinh tế - xã hội và đổi mới tuyên truyền, Hướng dẫn 03 dành sự quan tâm đáng kể cho vấn đề văn hóa. Các cấp ủy, tổ chức đảng được yêu cầu bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc cũng như những giá trị đạo đức, văn hóa và nguồn lực của tôn giáo.
Vai trò của nghệ nhân dân gian trong bảo tồn văn hóa cần được sử dụng và phát huy. Đồng thời, công tác vận động phải hướng tới bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan và những tập quán lạc hậu. Hướng dẫn cũng nêu rõ không cổ xúy việc thờ cúng những nhân vật nhạy cảm, đi ngược truyền thống văn hóa tốt đẹp, thuần phong mỹ tục và lợi ích quốc gia - dân tộc.
Điều này cho thấy việc đặt bảo tồn văn hóa song hành với việc nhận diện, loại bỏ những yếu tố không còn phù hợp. Điều đó có nghĩa, việc phát huy bản sắc không đồng nghĩa với duy trì mọi tập quán một cách bất biến. Những giá trị văn hóa tốt đẹp cần được bảo tồn và phát huy, trong khi hủ tục, mê tín dị đoan và tập quán lạc hậu cần được vận động loại bỏ phù hợp với thực tiễn.
Quan tâm nguồn cán bộ là người dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo
Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ ở cơ sở. Hướng dẫn yêu cầu quan tâm phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo; tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, bố trí và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ là tín đồ tôn giáo đáp ứng đủ tiêu chuẩn.
Nội dung này có quan hệ trực tiếp với yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo từ cơ sở. Đội ngũ cán bộ hiểu địa bàn, văn hóa, phong tục và đời sống của người dân là một yếu tố quan trọng trong quá trình tuyên truyền, vận động cũng như tổ chức thực hiện chính sách. Tuy nhiên, Hướng dẫn đồng thời đặt ra yêu cầu rõ ràng về tiêu chuẩn đối với việc tạo nguồn, tuyển dụng, bố trí và sử dụng cán bộ.
Cùng với công tác cán bộ, việc quản lý dữ liệu dân cư cũng được đặt ra. Hướng dẫn yêu cầu làm tốt công tác hộ tịch, xác định thành phần dân tộc, quốc tịch và quản lý cơ sở dữ liệu dân cư; rà soát, giải quyết đúng pháp luật những vấn đề liên quan tới người không quốc tịch, con lai, hôn nhân có yếu tố nước ngoài, giấy tờ nhân thân; qua đó bảo đảm quyền trẻ em, quyền tiếp cận giáo dục, y tế và an sinh xã hội. Đây là nhóm nhiệm vụ có tính quản lý cụ thể, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân, do đó việc xử lý phải đặt trên cơ sở pháp luật.
Nhận diện đúng các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới
Hướng dẫn 03 dành riêng một nội dung cho việc nhận diện và xử lý những hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới xuất hiện. Theo đó, các hiện tượng mới phải được nhận diện, đánh giá và phân loại để có giải pháp phù hợp.
Trường hợp có xu hướng diễn tiến phù hợp với pháp luật thì thực hiện hướng dẫn, quản lý. Với hiện tượng mê tín, trục lợi, phản khoa học, biện pháp được đặt ra là tuyên truyền, chấn chỉnh và xử lý. Đối với hiện tượng cực đoan, phản động, xâm phạm an ninh, trật tự, Hướng dẫn yêu cầu kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm.
Đây là yêu cầu quan trọng về phương pháp nhận diện và xử lý. Thay vì áp dụng cách nhìn đồng nhất đối với các hiện tượng khác nhau, Hướng dẫn yêu cầu phân loại dựa trên tính chất cụ thể. Cách tiếp cận này vừa tránh đánh đồng các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp với những hiện tượng vi phạm, vừa tạo cơ sở lựa chọn biện pháp phù hợp đối với từng trường hợp.
Chủ động nắm tình hình từ sớm, từ xa và ngay từ cơ sở
Một nguyên tắc nổi bật khác là yêu cầu chủ động nắm bắt tình hình, đặc biệt tại những khu vực và môi trường tiềm ẩn vấn đề phức tạp. Theo đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải chủ động nắm tình hình từ sớm, từ xa, nhất là tại vùng biên giới, địa bàn trọng điểm và trên không gian mạng.
Hướng dẫn yêu cầu phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa để viện trợ, tài trợ và đầu tư nước ngoài trái quy định nhằm kích động, lôi kéo, chia rẽ, hình thành tổ chức trái phép hoặc gây điểm nóng; qua đó góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Cùng với đó, công tác đối ngoại về dân tộc, tôn giáo cần được tăng cường. Việc tiếp thu kinh nghiệm phải phục vụ công tác tham mưu hoạch định chính sách; đồng thời chủ động trao đổi thông tin, tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức, cá nhân quốc tế và đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc về chính sách dân tộc, tôn giáo của Việt Nam.
Các nhiệm vụ này cho thấy yêu cầu phòng ngừa được đặt lên trước xử lý. Việc nắm bắt diễn biến ngay từ cơ sở, đồng thời theo dõi không gian mạng và các địa bàn trọng điểm, giúp cơ quan có trách nhiệm có điều kiện nhận diện vấn đề sớm hơn. Đây cũng là lý do Hướng dẫn yêu cầu các vấn đề phát sinh phải được đánh giá, phân loại ngay từ đầu thay vì áp dụng một biện pháp chung cho mọi trường hợp.
Quán triệt phải đi vào việc làm và trách nhiệm cụ thể
Để các nhiệm vụ trên được triển khai thống nhất, Hướng dẫn 03 xác định hình thức quán triệt thông qua hội nghị, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt chuyên đề và tập huấn nghiệp vụ. Điểm đáng chú ý là nội dung quán triệt phải tập trung vào việc phải làm, trách nhiệm, thẩm quyền và cách xử lý những vấn đề phát sinh.
Như vậy, yêu cầu quán triệt không dừng ở việc phổ biến nội dung văn bản. Trọng tâm được chuyển sang khả năng tổ chức thực hiện: chủ thể nào chịu trách nhiệm, thẩm quyền đến đâu và vấn đề phát sinh phải được xử lý như thế nào. Điều này thống nhất với yêu cầu được đặt ra ngay từ đầu của Hướng dẫn là “rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả”.
Công tác kiểm tra, giám sát cũng được gắn trực tiếp với việc thực hiện nhiệm vụ. Theo chức năng, nhiệm vụ được phân công và tình hình thực tiễn tại đơn vị, các cấp ủy, tổ chức đảng phải đưa nội dung công tác dân tộc, tôn giáo vào chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm. Trọng tâm kiểm tra bao gồm việc ban hành kế hoạch, tổ chức quán triệt, phân công trách nhiệm, giải quyết các kiến nghị hợp pháp, nhận diện hiện tượng mới, phòng ngừa những vụ việc phức tạp và thực hiện chế độ báo cáo.
Hướng dẫn đồng thời quy định chế độ báo cáo định kỳ hằng tháng, hằng quý và 6 tháng về kết quả thực hiện. Đối với địa bàn trọng điểm, vụ việc phức tạp hoặc khi xuất hiện hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới, phải thực hiện báo cáo chuyên đề, đột xuất, trong đó làm rõ tình hình, nguyên nhân, biện pháp đã xử lý và kiến nghị hỗ trợ. Các đơn vị căn cứ tình hình thực tiễn để định kỳ sơ kết, tổng kết; biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân tiêu biểu và chuẩn hóa, nhân rộng những mô hình, điển hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả.
Việc gắn tuyên truyền và tổ chức thực hiện với kiểm tra, giám sát, báo cáo tạo thành một chu trình tương đối đầy đủ: triển khai nhiệm vụ - theo dõi thực hiện - nhận diện vấn đề - xử lý - đánh giá kết quả - nhân rộng cách làm hiệu quả. Đây là cơ sở để việc thực hiện chủ trương không chỉ dừng lại ở khâu phổ biến văn bản.
Hướng tới hiệu quả thực chất từ cơ sở
Có thể thấy Hướng dẫn 03 đặt ra một hệ thống nhiệm vụ khá toàn diện đối với công tác dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn mới. Xuyên suốt các nội dung là yêu cầu phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Cùng với đó, công tác dân tộc, tôn giáo được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, an sinh, văn hóa, xây dựng hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Hướng dẫn 03 dành trọng tâm đáng kể cho phương thức thực hiện. Những yêu cầu như sát địa bàn, sát đối tượng; kết hợp tuyên truyền trực tiếp với trực tuyến; chú trọng không gian mạng; chủ động cung cấp thông tin chính xác; nhận diện và xử lý vấn đề ngay từ cơ sở; hay xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền cho thấy trọng tâm không chỉ nằm ở “tuyên truyền nội dung gì” mà còn ở “tuyên truyền và tổ chức thực hiện như thế nào”.
Trong bối cảnh môi trường thông tin ngày càng đa dạng, việc phát huy vai trò của báo chí, thông tin cơ sở, mạng xã hội và tiếng dân tộc tại những nơi cần thiết cũng mở rộng các kênh tiếp cận người dân. Tuy nhiên, yêu cầu xuyên suốt vẫn là thông tin chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu và phù hợp với từng địa bàn, từng nhóm đối tượng.
Ở phương diện tổ chức thực hiện, Hướng dẫn 03 đề cao tính chủ động của cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là khả năng nhận diện vấn đề từ sớm, từ xa và giải quyết ngay từ cơ sở. Việc phát hiện những hiện tượng mới phải đi cùng với đánh giá, phân loại khách quan để lựa chọn biện pháp phù hợp, tránh đánh đồng giữa các hiện tượng có bản chất khác nhau.
Đồng thời, hiệu quả của công tác dân tộc, tôn giáo còn được gắn với những kết quả cụ thể trong chăm lo đời sống, giải quyết kiến nghị hợp pháp, chính đáng của nhân dân; bảo tồn văn hóa; phát triển nguồn cán bộ; bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục, y tế và an sinh xã hội.
Từ những yêu cầu đó, Hướng dẫn 03 hướng tới phương châm thực chất hơn: chủ trương phải được chuyển thành nhiệm vụ cụ thể; nhiệm vụ phải xác định được chủ thể chịu trách nhiệm; những vấn đề mới phải được nhận diện, phân loại và xử lý kịp thời; kết quả thực hiện phải được kiểm tra, giám sát và đánh giá. Qua đó, công tác dân tộc, tôn giáo gắn chặt hơn với nhiệm vụ củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chăm lo đời sống nhân dân và bảo đảm ổn định, phát triển trong giai đoạn mới./.