Truyền thông

Tuyên Quang trong không gian phát triển mới

VVH 16/09/2026 09:54

Sau sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Tuyên Quang bước vào một không gian phát triển mới với những cơ hội lớn hơn về liên kết vùng, khai thác tài nguyên, phát triển nông - lâm nghiệp, du lịch và nâng cao đời sống người dân. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, hạ tầng số, v.v. nhất là tại địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) hướng tới khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, phát triển kết cấu hạ tầng, giáo dục, y tế, văn hóa và từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống, thu nhập giữa vùng đồng bào DTTS&MN với bình quân chung của cả nước. Trong bối cảnh đó, những kết quả phát triển kinh tế - xã hội của Tuyên Quang trong 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy nhiều chuyển động đáng chú ý. Cùng với duy trì tăng trưởng, địa phương đang tập trung giải quyết những vấn đề phát sinh sau sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp, du lịch và bảo đảm an sinh xã hội.

Phát huy lợi thế nông, lâm nghiệp và sản phẩm đặc trưng

Nông, lâm nghiệp tiếp tục là một trong những lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế và sinh kế của người dân Tuyên Quang, nhất là tại khu vực nông thôn, miền núi.

Theo Báo cáo Công tác chỉ đạo, điều hành 6 tháng đầu năm 2026; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm chỉ đạo, điều hành 6 cuối năm 2026 của UBND tỉnh Tuyên Quang (Báo cáo), sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2026 cơ bản tăng so với cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 15,08 vạn tấn, tăng 20,9% so với cùng kỳ. Cơ cấu cây trồng tiếp tục được chuyển đổi theo hướng tích cực. Các xã triển khai chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa; diện tích chuyển đổi đạt 201 mô hình sản xuất, gồm 86 mô hình cây hằng năm với diện tích 1.034,84 ha và 125 mô hình cây lâu năm với diện tích khoảng 1.195 ha.

Một số cây trồng chủ lực tiếp tục được duy trì và phát triển. Diện tích chè đạt trên 8.122 ha; diện tích cam đạt 10.494 ha, sản lượng ước đạt 125.000 tấn. Tỉnh tiếp tục duy trì và phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, từng bước gắn sản xuất với tiêu chuẩn, quy chuẩn và thị trường.

Chăn nuôi duy trì ổn định, tổng đàn vật nuôi cơ bản được giữ vững. Đáng chú ý, sản lượng thịt hơi 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 97.927 tấn, tăng 50,17% so với cùng kỳ.

Lâm nghiệp tiếp tục thể hiện rõ lợi thế của địa phương. Diện tích trồng rừng đạt 22.500 ha, bằng 47,8% kế hoạch và tăng 4,5% so với cùng kỳ. Tỉnh tổ chức Lễ phát động Tháng tái tạo nguồn lợi thủy sản năm 2026, hưởng ứng Ngày truyền thống ngành Thủy sản Việt Nam.

Đối với xây dựng nông thôn mới và phát triển sản phẩm địa phương, tỉnh tiếp tục duy trì hoạt động đưa sản phẩm nông, lâm, thủy sản an toàn lên sàn giao dịch thương mại điện tử. Theo Báo cáo, đến 20/6/2026, có 469 sản phẩm OCOP được công nhận, qua đó góp phần mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Những kết quả trên phù hợp với định hướng của Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp gắn với bảo vệ rừng, nâng cao thu nhập; xây dựng các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị và thúc đẩy sinh kế cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN.

Khai thác văn hóa, du lịch để mở rộng sinh kế

Bên cạnh nông, lâm nghiệp, du lịch được xác định là một trong những lĩnh vực có nhiều dư địa phát triển của Tuyên Quang. Báo cáo của UBND tỉnh Tuyên Quang cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đón trên 2,093 triệu lượt khách, tăng 20,9% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 7,83%, tổng giá trị đạt trên 20.825 tỷ đồng.

Định hướng phát triển du lịch của tỉnh đặt trọng tâm vào việc khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, đồng thời hình thành các sản phẩm có khả năng tạo sức hút lâu dài. Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục nâng cao chất lượng điểm đến, phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, tăng cường liên kết giữa các địa phương, doanh nghiệp lữ hành; chú trọng khai thác thế mạnh về du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, văn hóa và cộng đồng. Đáng chú ý, Tuyên Quang có nhiều không gian văn hóa và cảnh quan có khả năng tạo thành chuỗi sản phẩm du lịch đặc trưng như Cao nguyên đá Đồng Văn, đèo Mã Pì Lèng, cột cờ Lũng Cú, phố cổ Đồng Văn, Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình và Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm.

Việc phát triển du lịch gắn với khai thác các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa đặc biệt đối với địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Nếu các giá trị văn hóa được bảo tồn và khai thác phù hợp, du lịch có thể trở thành một kênh tạo việc làm và sinh kế cho cộng đồng.

Chính quyền địa phương 2 cấp: Bộ máy mới và những yêu cầu mới

Một nội dung đáng chú ý trong bức tranh kinh tế - xã hội của Tuyên Quang là đánh giá bước đầu quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Theo báo cáo của UBND tỉnh, sau sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tỉnh thành lập 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, giảm 13 cơ quan; giảm 92 đầu mối bên trong các sở, tương ứng mức giảm 24%. Đối với cấp xã, tỉnh thành lập 124 trung tâm phục vụ hành chính công. Báo cáo cho biết các trung tâm được bố trí 100% xã, phường có đầu mối tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, qua đó góp phần duy trì hoạt động phục vụ người dân và doanh nghiệp trong điều kiện tổ chức bộ máy mới.

tuyenquang-06aefa90d51df2ef2ac6023c9c2cf0d3.jpg
Tỉnh Tuyên Quang (sau khi hợp nhất giữa tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang cũ) có 124 đơn vị hành chính cấp xã.

Từ ngày 1/1/2026 đến 15/5/2026, các cấp đã cấp 9.046 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 6 tổ chức và 9.040 hộ gia đình. Đây là một trong những chỉ dấu cho thấy hoạt động giải quyết thủ tục liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân tiếp tục được triển khai trong quá trình kiện toàn bộ máy.

Tuy nhiên, quá trình vận hành chính quyền 2 cấp cũng phát sinh không ít khó khăn. Báo cáo của UBND tỉnh chỉ rõ mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là mô hình tổ chức mới, thời gian và tiến độ thực hiện gấp, khối lượng công việc chuyển tiếp rất lớn; điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, phương tiện làm việc chưa bảo đảm đồng bộ. Chất lượng cán bộ, công chức ở cơ sở có nơi chưa đáp ứng yêu cầu công việc; địa bàn quản lý rộng, tác động trực tiếp đến tiến độ, chất lượng tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Những vấn đề này càng đáng lưu ý tại các xã miền núi, nơi địa bàn rộng, dân cư phân tán và khả năng tiếp cận hạ tầng, dịch vụ công không đồng đều.

UBND tỉnh xác định cần tiếp tục rà soát, tháo gỡ những khó khăn trong quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; bảo đảm hoạt động thông suốt, ổn định và không để gián đoạn việc phục vụ người dân. Đồng thời, tỉnh chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đặc biệt đối với những lĩnh vực thường xuyên phát sinh vướng mắc như đất đai, tài chính, hộ tịch và giải quyết thủ tục hành chính.

Chuyển đổi số phải đi cùng nâng cao năng lực ở cơ sở

Cùng với kiện toàn tổ chức bộ máy, chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu trực tiếp đối với hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Tuyên Quang tổ chức 19 lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông tin, chuyển đổi số và nâng cao kỹ năng số, năng lực số, chương trình bình dân học vụ trí tuệ nhân tạo (AI). Hướng dẫn sử dụng và nộp hồ sơ thủ tục hành chính trên môi trường điện tử từ năm 2026 cho công chức, viên chức và tổ công nghệ số cộng đồng tại các xã, phường trên địa bàn tỉnh với 4.053 người tham gia. Kết quả này cho thấy, chuyển đổi số ở địa phương không chỉ dừng lại ở đầu tư công nghệ mà đã gắn với yêu cầu nâng cao kỹ năng của đội ngũ trực tiếp thực hiện và hỗ trợ người dân.

Tuy nhiên, Báo cáo cũng thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn. Phát triển hạ tầng viễn thông, Internet còn chậm so với kế hoạch; 58 thôn lõm sóng di động, trong đó 22 thôn chưa có điện lưới quốc gia. Việc phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong khai thác, chia sẻ dữ liệu và vận hành hệ thống thông tin dùng chung chưa thực sự chủ động, hiệu quả chưa cao. Hạ tầng công nghệ thông tin tại một số cơ quan, địa phương còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu triển khai các ứng dụng, nền tảng số. Đây là những vấn đề liên quan trực tiếp đến yêu cầu thu hẹp “khoảng cách số” giữa các khu vực. Với đặc thù địa hình miền núi, dân cư phân tán, việc nâng cao hiệu quả chuyển đổi số vì vậy cần được thực hiện đồng thời trên cả ba phương diện: hạ tầng kết nối, năng lực của cán bộ cơ sở và khả năng tiếp cận dịch vụ số của người dân.

Tháo gỡ điểm nghẽn, tạo dư địa phát triển từ không gian mới

Báo cáo của UBND tỉnh Tuyên Quang cũng chỉ ra một số tồn tại có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Giá nhiên liệu, vật liệu đầu vào tăng làm tăng chi phí sản xuất, kinh doanh; tiến độ triển khai một số dự án ngoài ngân sách còn chậm; giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 chưa đạt mục tiêu yêu cầu đề ra.

Đáng chú ý, việc triển khai kế hoạch, đề án sắp xếp thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh còn chậm; một số nhiệm vụ, nội dung thực hiện chưa bảo đảm tiến độ theo kế hoạch.

Trong triển khai chính quyền địa phương 2 cấp, những hạn chế về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nhân lực tiếp tục là những khó khăn cần tháo gỡ. Khối lượng công việc chuyển tiếp lớn trong khi năng lực của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế, tạo áp lực đáng kể cho quá trình vận hành.

Đối với Chương trình MTQG, tỉnh xác định tiếp tục triển khai các chương trình MTQG, thực hiện hiệu quả 03 chương trình MTQG, đồng thời triển khai Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia.

Để giải quyết các điểm nghẽn, một trong những yêu cầu được tỉnh đặt ra là tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định về phân cấp, phân quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền cấp xã; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh. Cùng với đó là tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ, hoàn thiện hạ tầng số, nâng cao khả năng chia sẻ dữ liệu và tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng tâm.

Tỉnh cũng đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ lớn: duy trì tăng trưởng, phát triển nông - lâm nghiệp, khai thác tiềm năng du lịch, thúc đẩy chuyển đổi số, bảo đảm an sinh và vận hành bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp. Trong quá trình đó, địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN vừa là nơi còn nhiều khó khăn cần tập trung nguồn lực, vừa sở hữu những tiềm năng đáng kể về nông nghiệp đặc sản, lâm nghiệp, cảnh quan và bản sắc văn hóa. Song song với đó, cần tiếp tục khai thác lợi thế nông - lâm nghiệp, phát triển sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng và du lịch gắn với văn hóa, đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số./.

VVH