Trường Đại học Khoa học Tự nhiên cần xác định rõ các hướng nghiên cứu có khả năng tạo giá trị cho đất nước
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đang tiếp tục phát huy thế mạnh khoa học cơ bản để hướng mạnh hơn tới đổi mới sáng tạo, công nghệ chiến lược và chuyển giao tri thức. Trong trung và dài hạn, Nhà trường cần xác định rõ các hướng nghiên cứu có khả năng tạo giá trị cho đất nước.
Những kết quả được công bố tại Hội nghị viên chức, người lao động và tổng kết năm học 2025 -2026 của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) ngày 9/9/2026 cho thấy một hướng phát triển đáng chú ý: duy trì nền tảng khoa học cơ bản và đào tạo nhân lực trình độ cao, đồng thời từng bước gia tăng khả năng kết nối nghiên cứu với đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp và nhu cầu phát triển của đất nước.

Nền tảng nghiên cứu được củng cố bằng những con số cụ thể
Một trong những điểm nổi bật trong bức tranh năm học 2025 - 2026 là quy mô hoạt động nghiên cứu khoa học tiếp tục được duy trì ở mức cao.
Theo Báo cáo của Nhà trường, trong năm học, cán bộ Nhà trường đã hoàn thành nghiệm thu và đăng ký kết quả 12 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp quốc gia; nộp hồ sơ nghiệm thu 10 đề tài Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED); nghiệm thu 5 nhiệm vụ cấp bộ, tỉnh. Đồng thời, cán bộ của Trường được giao thực hiện 2 nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, 82 nhiệm vụ cấp ĐHQGHN, ký hợp đồng thực hiện 29 đề tài NAFOSTED mới, thực hiện 18 nhiệm vụ hợp tác quốc tế, 12 nhiệm vụ cấp tỉnh cùng nhiều hợp đồng dịch vụ KH&CN.
Kết quả công bố tiếp tục phản ánh năng lực nghiên cứu của đội ngũ. Năm 2025, các nhà khoa học của Trường công bố 648 bài báo thuộc cơ sở dữ liệu của WoS/Scopus, tương đương gần 1,3 bài/cán bộ khoa học; có 141 bài báo khoa học trong nước và 11 sách/chương sách chuyên khảo, trong đó 4 sách/chương sách do nhà xuất bản nước ngoài xuất bản.
Bên cạnh công bố khoa học, hoạt động sở hữu trí tuệ có những kết quả đáng chú ý. Nhà trường có 15 bằng độc quyền sở hữu trí tuệ được cấp, gồm 7 bằng sáng chế và 8 bằng giải pháp hữu ích; 70 đơn đăng ký sở hữu trí tuệ được chấp nhận hợp lệ.
Năng lực nghiên cứu này được hỗ trợ bởi hệ thống gồm 1 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp quốc gia, 6 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp ĐHQGHN và 19 nhóm nghiên cứu mạnh cấp Trường, trong đó có 10 nhóm cấp ĐHQGHN.
Nghiên cứu khoa học không chỉ tập trung trong đội ngũ giảng viên, nhà khoa học mà đã được kết nối khá sâu với hoạt động đào tạo. Gần 1.250 sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học với 837 báo cáo trong năm học. Sinh viên tham gia công bố 12 bài báo quốc tế thuộc cơ sở dữ liệu của WoS/Scopus, 13 bài báo trong nước, 2 báo cáo hội nghị quốc tế, 2 báo cáo hội nghị trong nước và có 11 sản phẩm được đánh giá có tiềm năng ứng dụng.
Những con số này cho thấy một đặc điểm quan trọng trong mô hình đào tạo của một trường đại học định hướng nghiên cứu: hoạt động nghiên cứu được đưa vào quá trình hình thành năng lực khoa học của người học tương đối sớm. Đây cũng là một trong những tiền đề để gắn đào tạo đại học, sau đại học với các nhóm nghiên cứu và phòng thí nghiệm, thay vì xem nghiên cứu khoa học là hoạt động tách biệt với đào tạo.
Đào tạo nhân lực khoa học từ sớm
Cùng với nghiên cứu, quy mô và chất lượng đào tạo tiếp tục là một cấu phần quan trọng trong năng lực KH&CN của Nhà trường. Năm 2025, Trường tuyển sinh đại học bằng 6 phương thức cho 28 ngành/chương trình đào tạo. Có 17.367 thí sinh với 32.431 nguyện vọng, tăng lần lượt khoảng 50% và 69% so với năm 2024. Nhà trường tuyển được 2.537/2.435 chỉ tiêu đại học chính quy, đạt 104%.
Đến tháng 6/2026, tổng quy mô đào tạo của Trường là 10.442 người học, gồm 1.801 học sinh THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên, 7.873 sinh viên đại học chính quy, 601 học viên cao học và 167 nghiên cứu sinh. Trong năm học, 1.279 sinh viên được công nhận tốt nghiệp và nhận bằng cử nhân; 155 học viên được cấp bằng thạc sĩ và 26 nghiên cứu sinh nhận bằng tiến sĩ.
Một điểm mới là Nhà trường lần đầu triển khai Chương trình VNU12+, tuyển đủ 20 học sinh; đồng thời tổ chức Olympic VNU các môn khoa học tự nhiên với hơn 700 học sinh tham dự. Thành tích của người học trong các kỳ thi khoa học tiếp tục được duy trì. Sinh viên của Trường đạt 36 giải tại các kỳ thi Olympic sinh viên toàn quốc, gồm 7 giải Nhất, 8 giải Nhì, 13 giải Ba và 8 giải Khuyến khích; đội tuyển Vật lý đạt giải Nhất toàn đoàn.
Ở bậc phổ thông, học sinh Trường THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên đạt 12 giải Nhất, 24 giải Nhì, 10 giải Ba và 2 giải Khuyến khích tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Theo Báo cáo tóm tắt, đến thời điểm lập báo cáo, học sinh của Trường đã đạt 8 Huy chương Vàng, 6 Huy chương Bạc và 2 Huy chương Đồng tại các kỳ thi Olympic quốc tế và khu vực trong năm 2026.
Nếu nhìn xuyên suốt từ THPT chuyên, đào tạo đại học đến sau đại học và hoạt động của các nhóm nghiên cứu, có thể thấy Nhà trường đang sở hữu một chuỗi đào tạo - nghiên cứu tương đối liên tục. Đây là lợi thế đối với những lĩnh vực khoa học cơ bản vốn cần thời gian dài để phát hiện, bồi dưỡng và hình thành đội ngũ nghiên cứu trình độ cao.
Đội ngũ trình độ cao là nguồn lực cốt lõi
Năng lực nghiên cứu của một trường đại học trước hết phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ. Đến hết tháng 6/2026, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên có 654 viên chức và người lao động, trong đó 469 viên chức và 185 người lao động có đóng bảo hiểm xã hội. Toàn Trường có 15 giáo sư và 137 phó giáo sư. Đặc biệt, trong 372 giảng viên cơ hữu có 340 tiến sĩ/tiến sĩ khoa học, chiếm 91,39%; 151 giáo sư, phó giáo sư, chiếm 40,59%; 371 người có trình độ từ thạc sĩ trở lên, chiếm 99,73%.
Hoạt động bồi dưỡng, trao đổi học thuật cũng được triển khai với quy mô đáng kể. Có hơn 100 lượt cán bộ tham gia tập huấn sử dụng AI phục vụ đào tạo; 195 lượt đi trao đổi học thuật ngắn hạn dưới một tháng và 15 lượt từ một tháng trở lên ở nước ngoài.
Trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực KH&CN chất lượng cao ngày càng mạnh, tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ trên 91% là nền tảng quan trọng. Tuy nhiên, Nhà trường cũng cho rằng nguồn tuyển giảng viên chưa dồi dào và thu nhập chưa tạo được lợi thế cạnh tranh rõ rệt trong thu hút, giữ chân nhà khoa học trẻ và chuyên gia trình độ cao. Vì vậy, bài toán phát triển đội ngũ không chỉ nằm ở nâng chuẩn trình độ mà còn liên quan trực tiếp đến môi trường nghiên cứu và cơ chế thu hút nhân lực.
Hướng đến sản phẩm có khả năng chuyển giao
Bên cạnh những kết quả tích cực, Trường ĐHKHTN cũng xác định một khoảng cách cần tiếp tục thu hẹp: sản phẩm ứng dụng có giá trị chuyển giao cao chưa tương xứng với tiềm lực KH&CN; chỉ tiêu thành lập doanh nghiệp spin-off chưa đạt.
Hợp tác với doanh nghiệp tăng về số nhiệm vụ nhưng giá trị chuyển giao, doanh thu và sản phẩm đầu ra chưa đồng đều. Kinh phí dành cho KH&CN còn khiêm tốn so với tiềm năng và thường được giao muộn; năng lực tiếp cận các nguồn vốn khác nhau còn hạn chế. Cơ sở vật chất nghiên cứu cũng chưa đồng bộ và hiệu quả khai thác thiết bị tại một số đơn vị chưa cao.
Những hạn chế này cho thấy thách thức tiếp theo không đơn thuần là gia tăng số lượng nhiệm vụ hay công bố khoa học mà còn nằm ở khả năng chuyển hóa tri thức thành công nghệ, sản phẩm và giá trị phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Tại Hội nghị, GS. TS Nguyễn Văn Nội, nguyên Hiệu trưởng Nhà trường nhấn mạnh ba nhiệm vụ then chốt, gồm đẩy mạnh quốc tế hóa và các chương trình hợp tác quốc tế; nâng cao vị thế khoa học, công nghệ; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tăng cường kết nối giữa nhà khoa học, nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Theo GS.T S Nguyễn Văn Nội, thương mại hóa kết quả nghiên cứu cần trở thành một hướng quan trọng để gia tăng nguồn lực và đưa sản phẩm KH&CN vào thực tiễn.
Các định hướng cụ thể cho năm học 2026 - 2027
Trong KH&CN, Nhà trường đặt mục tiêu tăng kinh phí tối thiểu 10%; có ít nhất 15 văn bằng sở hữu trí tuệ, 35 đơn đăng ký được chấp nhận hợp lệ; 5 sản phẩm được chuyển giao hoặc thương mại hóa và thành lập 2 doanh nghiệp spin-off.
Về công bố, mục tiêu là đạt 730 công trình trong cơ sở dữ liệu của WoS/Scopus, 160 công trình trong nước, 10 sách/chương sách chuyên khảo, thành lập thêm 2 nhóm nghiên cứu mạnh; có 840 báo cáo khoa học sinh viên; tổ chức tối thiểu một triển lãm hoặc hội chợ và có một giải thưởng cấp Bộ hoặc tương đương về KH&CN.
Về phát triển nhân lực, tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ/tiến sĩ khoa học được đặt mục tiêu đạt 92%; tỷ lệ giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư trên tổng số giảng viên cơ hữu đạt 41%; thu hút mới 15 tiến sĩ.
Những chỉ tiêu trên cho thấy trọng tâm không chỉ nằm ở số lượng công bố. Các chỉ số về sở hữu trí tuệ, chuyển giao, thương mại hóa và doanh nghiệp spin-off được đặt song song với chỉ tiêu bài báo khoa học. Đây có thể xem là một bước dịch chuyển trong cách xác định đầu ra của hoạt động nghiên cứu: bên cạnh công bố học thuật, kết quả nghiên cứu còn được đo bằng tài sản trí tuệ, sản phẩm chuyển giao và khả năng hình thành doanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu. Việc đạt được các mục tiêu này, tuy nhiên, phụ thuộc vào năng lực của các nhóm nghiên cứu cũng như cơ chế kết nối với doanh nghiệp, nguồn lực tài chính và hạ tầng nghiên cứu./.