Ý kiến chuyên gia

Công nghiệp văn hóa: Từ liên ngành đến xuyên ngành

TS. Lê Văn Út, Phó Hiệu trưởng kiêm Viện trưởng Viện Đo lường khoa học và Chính sách quản trị nghiên cứu, Trường Đại học Hoa Sen 14/09/2026 15:53

Trong dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, một vấn đề đáng chú ý là cách dự thảo đặt ra định hướng phát triển nguồn nhân lực và tổ chức đào tạo trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Đây là lĩnh vực không chỉ gắn với văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo, mà còn liên quan trực tiếp đến công nghệ, truyền thông, thị trường, dữ liệu, sở hữu trí tuệ, quản trị và chuỗi giá trị sản phẩm văn hóa.

Dự thảo luật đã có một định hướng quan trọng khi nhấn mạnh việc xây dựng chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa có kỹ năng liên ngành, có khả năng kết nối nhiều công đoạn hoặc toàn bộ chuỗi giá trị và hoạt động hỗ trợ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Đồng thời, dự thảo cũng đặt ra yêu cầu ưu tiên phát triển các ngành, chuyên ngành đào tạo phục vụ công nghiệp văn hóa theo hướng liên ngành, gắn với sự phát triển của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo.

Đây là cách tiếp cận rất phù hợp và cần thiết. Tuy nhiên, từ góc độ nghiên cứu khoa học, dữ liệu công bố quốc tế và thực tiễn phát triển ngành, có thể thấy rằng liên ngành là cần thiết nhưng chưa đủ. Công nghiệp văn hóa cần được nhìn nhận như một lĩnh vực có tính xuyên ngành, nơi văn hóa, nghệ thuật, công nghệ, truyền thông, thị trường, giáo dục, quản trị, chính sách công và cộng đồng cùng tham gia tạo lập giá trị.

Nói cách khác, vấn đề không phải là thay thế “liên ngành” bằng “xuyên ngành”, mà là mở rộng định hướng liên ngành trong dự thảo luật lên một cấp độ phát triển đầy đủ hơn. Liên ngành giúp kết nối các lĩnh vực tri thức; xuyên ngành giúp kết nối tri thức với thực tiễn, học thuật với thị trường, sáng tạo với công nghệ, chính sách với cộng đồng và đào tạo với chuyển giao.

ut1.jpg
Tác giả trình bày báo cáo tại một hội thảo khoa học tại Trường Đại học Hoa Sen. (Ảnh: TG)

Dự thảo luật đã đặt nền tảng liên ngành

Trong dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa [1], Điều 6 về chính sách phát triển công nghiệp văn hóa nêu rõ Nhà nước ưu tiên xây dựng chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa có kỹ năng liên ngành, có khả năng kết nối nhiều công đoạn hoặc toàn bộ chuỗi giá trị và các hoạt động hỗ trợ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Điều 19 về hoạt động phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng quy định rằng, đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, cần ưu tiên mở các ngành, chuyên ngành văn hóa theo hướng liên ngành, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo.

Những quy định này cho thấy dự thảo đã nhận diện đúng đặc thù của công nghiệp văn hóa: đây không phải là lĩnh vực có thể phát triển trong phạm vi một chuyên ngành hẹp. Một sản phẩm văn hóa muốn hình thành, lan tỏa và tạo giá trị kinh tế - xã hội cần sự tham gia của nhiều loại tri thức: sáng tạo nghệ thuật, công nghệ số, truyền thông, quản trị, marketing, pháp luật, tài chính, dữ liệu người dùng, hành vi công chúng và chính sách phát triển.

Tuy nhiên, khi công nghiệp văn hóa được đặt trong bối cảnh khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, yêu cầu đặt ra không chỉ là người học có “kỹ năng liên ngành”, mà còn cần có năng lực xuyên ngành. Đó là năng lực kết nối tri thức học thuật với thực tiễn sáng tạo, thị trường, doanh nghiệp, cộng đồng và chính sách; từ đó tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, mô hình và giá trị văn hóa mới.

Liên ngành và xuyên ngành khác nhau như thế nào?

Theo một kết quả nghiên cứu của SARAP [2], trong phát triển nghiên cứu khoa học, đơn ngành, đa ngành, liên ngành và xuyên ngành là các cấp độ tích hợp tri thức khác nhau.

Nghiên cứu đơn ngành đào sâu trong phạm vi một ngành; đa ngành huy động nhiều ngành song song; liên ngành tích hợp lý thuyết, phương pháp và dữ liệu từ nhiều ngành để hình thành cách tiếp cận chung.

Ở cấp độ cao hơn, xuyên ngành vượt qua ranh giới học thuật, kết hợp tri thức khoa học với tri thức thực tiễn, kinh nghiệm xã hội, văn hóa và chính sách nhằm tạo ra tri thức mới có tính hệ thống và khả năng ứng dụng cao.

Điểm khác biệt cốt lõi của xuyên ngành là nó không chỉ kết hợp các ngành trong phạm vi nhà trường hay giới học thuật. Xuyên ngành đưa các tác nhân ngoài học thuật vào quá trình hình thành, kiểm chứng và chuyển hóa tri thức. Kết quả nghiên cứu chiến lược của SARAP [2] nhấn mạnh rằng nghiên cứu xuyên ngành có sự phối hợp giữa nhà khoa học, doanh nghiệp, chính quyền và cộng đồng.

Với công nghiệp văn hóa, đây chính là cách thức vận hành trên thực tế. Một bộ phim, một sản phẩm thiết kế, một lễ hội, một sản phẩm du lịch văn hóa, một nền tảng nội dung số hay một chương trình biểu diễn nghệ thuật không chỉ được tạo ra bởi người sáng tạo. Nó còn cần công nghệ để sản xuất và phân phối; cần doanh nghiệp để thương mại hóa; cần truyền thông để lan tỏa; cần chính sách để bảo vệ và thúc đẩy; cần cộng đồng để tiếp nhận, đồng sáng tạo và duy trì giá trị.

Vì vậy, nếu chỉ tiếp cận liên ngành, chúng ta có thể mới dừng lại ở việc kết hợp một số ngành trong chương trình đào tạo. Nhưng nếu tiếp cận xuyên ngành, chúng ta sẽ nhìn thấy toàn bộ hệ sinh thái tạo giá trị của công nghiệp văn hóa: từ đào tạo, nghiên cứu, sáng tạo, công nghệ, doanh nghiệp, thị trường, chính sách đến cộng đồng và người tiêu dùng văn hóa.

Dữ liệu khoa học quốc tế ủng hộ tiếp cận xuyên ngành

Dữ liệu khoa học quốc tế cũng cho thấy công nghiệp văn hóa không còn là một lĩnh vực nghiên cứu đơn tuyến. Theo dữ liệu Web of Science (Mỹ) được ghi nhận lúc 23h00 ngày 26/8/2026, toàn thế giới có ít nhất 3.344 ấn phẩm khoa học trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Khi phân tích theo 25 lĩnh vực, các ấn phẩm này không chỉ nằm trong nhóm văn hóa hay nghệ thuật, mà phân bố rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Cụ thể, nhóm lĩnh vực có số lượng công bố lớn gồm kinh doanh và kinh tế với 651 ấn phẩm, truyền thông với 448 ấn phẩm, các chủ đề khác thuộc khoa học xã hội với 397 ấn phẩm, các chủ đề khác thuộc nghệ thuật và nhân văn với 309 ấn phẩm, nghiên cứu văn hóa với 278 ấn phẩm, giáo dục và nghiên cứu giáo dục với 210 ấn phẩm và xã hội học với 210 ấn phẩm.

Ngoài ra, dữ liệu còn ghi nhận nhiều lĩnh vực khác như địa lý, khoa học máy tính, kỹ thuật, quản trị công, văn học, khoa học môi trường và sinh thái, nghiên cứu đô thị, lịch sử, nghệ thuật, triết học, điện ảnh - phát thanh - truyền hình, khoa học thông tin và thư viện, luật, nghiên cứu phát triển, ngôn ngữ học và nghiên cứu vận hành.

Sự phân bố này rất đáng chú ý. Nếu công nghiệp văn hóa chỉ là một lĩnh vực văn hóa thuần túy, dữ liệu công bố khoa học quốc tế sẽ không trải rộng như vậy. Việc các công bố về công nghiệp văn hóa xuất hiện đồng thời trong kinh tế, truyền thông, khoa học xã hội, nghệ thuật - nhân văn, giáo dục, xã hội học, môi trường, địa lý, khoa học máy tính, kỹ thuật, quản trị công, luật và nghiên cứu phát triển cho thấy công nghiệp văn hóa đang được nghiên cứu như một không gian hội tụ giữa sáng tạo, công nghệ, chính sách, thị trường và xã hội.

Từ dữ liệu này, có thể thấy tiếp cận xuyên ngành không phải là một cách diễn đạt mở rộng mang tính hình thức, mà phản ánh đúng bản chất tri thức và thực tiễn phát triển của công nghiệp văn hóa hiện nay.

ut2.png
Ảnh chụp trực tiếp từ Web of Science. (Ảnh: TG)

Công nghiệp văn hóa cần được phát triển như một chuỗi giá trị xuyên ngành

Công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra sản phẩm văn hóa. Nó tạo ra giá trị thông qua toàn bộ chuỗi: hình thành ý tưởng, sáng tạo nội dung, thiết kế sản phẩm, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, sản xuất, truyền thông, phân phối, tiêu dùng, đánh giá tác động và tái tạo giá trị.

Mỗi công đoạn trong chuỗi này đòi hỏi sự tham gia của nhiều loại tri thức. Sáng tạo nghệ thuật cần tri thức văn hóa, thẩm mỹ và bản sắc. Thiết kế sản phẩm cần công nghệ, mỹ thuật và hành vi người dùng. Phân phối cần nền tảng số, truyền thông và dữ liệu thị trường. Bảo vệ giá trị cần luật sở hữu trí tuệ. Phát triển cộng đồng cần xã hội học, giáo dục và chính sách công. Đo lường hiệu quả cần kinh tế, thống kê, dữ liệu và quản trị.

Do đó, nhân lực công nghiệp văn hóa không chỉ cần “biết nhiều ngành”, mà cần có khả năng kết nối tri thức với thực tiễn. Đây là điểm cốt lõi của tiếp cận xuyên ngành. Một chương trình đào tạo theo hướng xuyên ngành không chỉ bổ sung các học phần khác nhau, mà còn phải giúp người học giải quyết những vấn đề thực tế của ngành: làm thế nào để phát triển sản phẩm văn hóa có bản sắc và có thị trường; làm thế nào để chuyển hóa di sản thành sản phẩm sáng tạo mà không làm mất giá trị văn hóa; làm thế nào để công nghệ số và trí tuệ nhân tạo hỗ trợ sáng tạo; làm thế nào để doanh nghiệp, nhà trường, nghệ sĩ, chính quyền và cộng đồng cùng tham gia vào chuỗi giá trị văn hóa.

Từ nghiên cứu xuyên ngành đến sản phẩm chuyển giao

Một điểm quan trọng của tiếp cận xuyên ngành là không chỉ hướng đến bài báo khoa học, mà hướng đến giá trị chuyển giao từ kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu chiến lược của SARAP [2] cho rằng trụ cột chuyển giao phản ánh năng lực biến kết quả nghiên cứu thành giá trị thực chứng cho xã hội, từ sản phẩm công nghệ, mô hình quản trị, chính sách phát triển đến tri thức văn hóa - xã hội.

Đối với công nghiệp văn hóa, điều này có ý nghĩa đặc biệt. Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này không nên chỉ được nhìn nhận qua số lượng công bố khoa học, mà cần được đánh giá qua khả năng tạo ra các sản phẩm chuyển giao. Theo mô hình SARAP [3], thước đo giá trị chuyển giao có thể bao gồm ba nhóm sản phẩm: sản phẩm công nghệ mới, sản phẩm tri thức mới và sản phẩm danh tiếng mới.

Trong công nghiệp văn hóa, sản phẩm tri thức mới có thể là mô hình phát triển công nghiệp văn hóa địa phương, báo cáo tư vấn chính sách, bộ tiêu chí đánh giá chuỗi giá trị văn hóa, chương trình đào tạo, tài liệu hướng dẫn chuyên môn, mô hình quản trị di sản, phương pháp đo lường tác động văn hóa hoặc mô hình phát triển thị trường cho sản phẩm sáng tạo.

Sản phẩm công nghệ mới có thể là nền tảng số, công cụ phân tích dữ liệu người dùng văn hóa, ứng dụng thực tế ảo cho bảo tàng, giải pháp số hóa di sản, hệ thống phân phối nội dung sáng tạo, công cụ hỗ trợ thiết kế, sản xuất, truyền thông và thương mại hóa sản phẩm văn hóa.

Sản phẩm danh tiếng mới có thể là thương hiệu văn hóa của địa phương, uy tín học thuật của một cơ sở đào tạo, vị thế của một nhóm nghiên cứu, năng lực thu hút hợp tác quốc tế, hoặc hình ảnh của một quốc gia như một trung tâm sáng tạo văn hóa trong khu vực.

Cách nhìn này giúp mở rộng khái niệm chuyển giao trong công nghiệp văn hóa. Chuyển giao không chỉ là chuyển giao công nghệ theo nghĩa hẹp. Chuyển giao còn là biến kết quả nghiên cứu thành tri thức, mô hình, chính sách, công cụ, sản phẩm, thương hiệu và giá trị xã hội cụ thể.

Đề xuất bổ sung tiếp cận xuyên ngành trong dự thảo luật

Từ các phân tích trên, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nên tiếp tục giữ định hướng liên ngành, nhưng cần bổ sung tiếp cận xuyên ngành. Liên ngành là nền tảng đúng; xuyên ngành là bước phát triển cần thiết để phản ánh đầy đủ hơn bản chất của công nghiệp văn hóa.

Đối với Điều 6, bên cạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa có kỹ năng liên ngành, có thể cân nhắc bổ sung yêu cầu về năng lực xuyên ngành, tức năng lực kết nối tri thức chuyên môn với công nghệ, thị trường, doanh nghiệp, cộng đồng, chính sách và toàn bộ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Đối với Điều 19, khi nói về ưu tiên mở các ngành, chuyên ngành văn hóa theo hướng liên ngành, có thể cân nhắc mở rộng thành theo hướng liên ngành, xuyên ngành, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo.

Việc bổ sung này không làm thay đổi tinh thần của dự thảo, mà giúp làm sâu sắc hơn định hướng đã có. Bởi lẽ, công nghiệp văn hóa không chỉ cần nhân lực biết kết hợp nhiều ngành, mà cần nhân lực có khả năng làm việc trong môi trường thực tế, nơi nghệ thuật, công nghệ, kinh doanh, dữ liệu, luật, chính sách và cộng đồng cùng tham gia tạo ra giá trị./.

Tài liệu tham khảo

[1] Chinhphu.vn (2026), Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, https://chinhphu.vn/du-thao-vbqppl/du-thao-luat-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-7904, ngày 07/8/2026.

[2] Lê Văn Út (2025), Chiến lược phát triển nghiên cứu khoa học bền vững dựa trên mô hình xuất sắc nghiên cứu xuyên ngành”, Báo cáo nghiên cứu chiến lược về phát triển nghiên cứu khoa học, Nhóm nghiên cứu Đo lường khoa học và Chính sách quản trị nghiên cứu (SARAP) (48 trang).

[3] Lê Văn Út (2024), Ba loại sản phẩm khoa học công nghệ tạo ra tiền, Báo Đại biểu Nhân dân, https://daibieunhandan.vn/giao-duc--y-te1/ba-loai-san-pham-khoa-hoc-cong-nghe-tao-ra-tien-i359338/

TS. Lê Văn Út, Phó Hiệu trưởng kiêm Viện trưởng Viện Đo lường khoa học và Chính sách quản trị nghiên cứu, Trường Đại học Hoa Sen