Chuyển đổi số

Chuyển đổi số ở Tuyên Quang: Làm giàu từ xóa nghèo thông tin

Ánh Dương 12/09/2026 15:20

Một chiếc điện thoại thông minh, một nhóm Zalo hay một phiên livestream bán nông sản – những điều tưởng như rất đỗi quen thuộc ở đô thị đang dần trở thành công cụ "làm kinh tế" hữu ích với người dân vùng cao Tuyên Quang. Chuyển đổi số đang len vào đời sống miền núi theo những cách giản dị như thế, giúp người dân tiếp cận thông tin, kết nối cộng đồng và tìm thêm cơ hội mở rộng thị trường.

Đây không chỉ là xu thế công nghệ tất yếu, mà chính là đòn bẩy quan trọng hiện thực hóa các Chương trình mục tiêu quốc gia: từ giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới thông minh đến phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, mở ra lối thoát nghèo và cơ hội làm giàu ngay trên chính quê hương.

Những “đại sứ số” nơi vùng cao

Trên dải đất miền cao Tuyên Quang, chiếc điện thoại thông minh từ chỗ chỉ phục vụ nghe gọi, giải trí đơn thuần đang dần trở thành công cụ thiết thực để người dân học hỏi, kết nối và làm kinh tế. CĐS không còn là câu chuyện xa xôi trong những văn bản hay diễn đàn, mà đã và đang hiện hữu trong từng nếp nhà, mảnh vườn, gian bếp và cả những sản vật được tạo ra từ bàn tay người dân.

Tại xã Kiên Đài, những ứng dụng số gần gũi đang mở ra cơ hội phát triển kinh tế mới. Người dân nơi đây đã biết sử dụng điện thoại để tìm hiểu kỹ năng số, quảng bá sản phẩm, kết nối khách hàng. Từ những phiên livestream bán mật ong, măng khô, gạo nếp hay các video giới thiệu cảnh sắc, văn hóa bản làng trên TikTok, YouTube, Facebook, người dân từng bước hình thành phương thức kinh doanh mới, góp phần đưa sản vật và hình ảnh địa phương đến gần hơn với thị trường.

ad9c68b245ad3a91fe64fd0ef8d1a941.jpg
Người dân ở Kiến Đài (Tuyên Quang) đã biết sử dụng điện thoại để tìm hiểu kỹ năng số, quảng bá sản phẩm, kết nối khách hàng (Ảnh: tuyenquang.gov.vn).

Ở thôn Yên Bình, chị Nguyễn Thị Giang là một trong những người tiên phong ứng dụng không gian số để đưa nông sản gia đình đến gần hơn với người tiêu dùng. Thay vì chỉ bán tại chợ hoặc qua thương lái như trước đây, chị đã chủ động đăng tải thông tin, tư vấn, chốt đơn và mở rộng kết nối với khách hàng ở nhiều địa phương.

Cũng tại Kiên Đài, ở thôn Nà Làng, anh Hà Văn Thế lựa chọn một cách tiếp cận khác: dùng chiếc điện thoại cá nhân để ghi lại sản vật, cảnh sắc và đời sống bản làng. Những video ngắn với hình ảnh chân thực, mộc mạc không chỉ góp phần quảng bá sản phẩm mà còn kể những câu chuyện đời thường về quê hương trên không gian số. Qua mỗi khuôn hình, những nét đẹp vốn quen thuộc với người dân địa phương lại có cơ hội được biết đến rộng rãi hơn.

Theo ông Tạ Quốc Hoàn, Phó Chủ tịch UBND xã Kiên Đài, đoàn viên, thanh niên trên địa bàn đang tích cực học hỏi kỹ năng xây dựng nội dung số, từ giới thiệu nông sản, hoạt động cộng đồng đến quảng bá văn hóa, cảnh quan địa phương. Việc thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng (CNSCĐ) được trao đổi, học tập kinh nghiệm từ mô hình “Làng sáng tạo nội dung số” tại xã Lâm Bình, cũng đã mở ra hướng đi mới, khơi dậy sức sáng tạo của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Từ quay, dựng video đến livestream bán hàng, người dân đang từng bước biến sản vật, cảnh đẹp và câu chuyện đời sống thường ngày thành những nội dung có sức lan tỏa. Mỗi video, mỗi phiên livestream hay câu chuyện về một nghề truyền thống đều có thể trở thành một “đại sứ số”, giúp sản phẩm và hình ảnh quê hương tiếp cận khách hàng, du khách và cộng đồng ở nhiều nơi.

Không chỉ ở Kiên Đài, tại xã Tân An, câu chuyện khởi nghiệp số của chị Bàn Thị Giàng ở thôn Tân Cường cho thấy sự thay đổi rõ nét trong tư duy làm kinh tế của người dân vùng cao. Tận dụng các nền tảng mạng xã hội để giới thiệu và bán sản phẩm, có tháng chị Giàng bán được hơn 20 bộ trang phục thổ cẩm truyền thống của người Dao, với giá từ 6-7 triệu đồng/bộ. Khách hàng không chỉ ở địa phương mà đến từ nhiều tỉnh, thành phố; nhiều người đặt may theo số đo và nhận sản phẩm thông qua dịch vụ vận chuyển.

1788949345956_1576683580229489970_1525607551627909375_d58deb062384b1ba0e663d0dd5eec338.jpg
Từ chỗ chủ yếu phục vụ thị trường quen thuộc, những bộ trang phục dân tộc được làm thủ công nay đã có thể tiếp cận khách hàng trong và ngoài nước (Ảnh: Ánh Dương).

Với chị Giàng, mạng xã hội không còn đơn thuần là nơi giao lưu, chia sẻ mà đã trở thành một kênh bán hàng thiết thực, giúp sản phẩm truyền thống mở rộng thị trường và tạo thêm cơ hội phát triển kinh tế gia đình.

Tương tự, tại thôn Phiêng Luông, xã Bình An, chị Phùng Thị Mùi cũng chủ động đưa nông sản gia đình lên các nền tảng trực tuyến để tìm kiếm khách hàng. Cách làm này giúp gia đình giảm dần sự phụ thuộc vào các kênh tiêu thụ truyền thống, mở rộng đầu ra và tạo thêm nguồn thu nhập ổn định.

Công nghệ đã biến những rào cản về địa lý thành lợi thế cạnh tranh, góp phần nâng cao thu nhập thực chất cho người dân theo đúng tinh thần giảm nghèo bền vững.

“Đi từng ngõ, gõ từng nhà” để xóa nghèo thông tin

Sự thay đổi trong nếp nghĩ và cách làm của người dân có sự đồng hành tích cực của các tổ chức hội, đoàn thể và cộng đồng. Tại thôn Nà Khán (xã Tân An), mô hình “Chi hội số” với 38/94 hội viên phụ nữ tham gia đang trở thành một cách làm thiết thực, đưa công nghệ đến gần hơn với đời sống [1]. Thông qua các nhóm Zalo, Facebook, cán bộ Hội cập nhật chủ trương, chính sách, thông tin về các phong trào thi đua, đồng thời hướng dẫn hội viên sử dụng dịch vụ công trực tuyến (DVCTT), thanh toán không dùng tiền mặt và khai thác các nền tảng số phục vụ cuộc sống, sản xuất.

Bà Ma Thị Hiếu, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN) xã Tân An cho biết, nếu trước đây công tác tuyên truyền, triển khai hoạt động chủ yếu được thực hiện qua các cuộc họp trực tiếp thì nay thông tin có thể truyền tải nhanh chóng, việc trao đổi giữa cán bộ Hội và hội viên cũng thuận tiện hơn.

Theo bà Triệu Thị Tình, Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN tỉnh Tuyên Quang, thời gian tới, các cấp Hội tiếp tục đẩy mạnh CĐS, trọng tâm là nâng cao kỹ năng số cho hội viên, hỗ trợ tiếp cận DVCTT, thanh toán không dùng tiền mặt và ứng dụng công nghệ trong phát triển kinh tế. Cùng với đó, những mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương sẽ được chú trọng xây dựng và nhân rộng.

Đến nay, hơn 200 nghìn hội viên phụ nữ trong tỉnh đã được tiếp cận công nghệ; 100% Hội LHPN các cấp duy trì nhóm Zalo, fanpage; toàn tỉnh có gần 80 mô hình “Chi hội số”, 128 “Cơ sở Hội số”, 201 “Gia đình số”, 6 câu lạc bộ “Chi hội số” và 2 “Tổ phụ nữ kinh doanh số”. Cùng với việc phổ cập kỹ năng số, thời gian tới, các cấp Hội cũng sẽ chú trọng nâng cao nhận thức về an toàn trên không gian mạng, phòng ngừa lừa đảo công nghệ cao và phát huy vai trò của cán bộ Hội theo tinh thần “Mỗi cán bộ Hội là một công dân số” [1].

c40bf803d70aaddf4259fd30aad95563.png
Người dân được hướng dẫn tận tình khi làm quen với việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường trực tuyến (Ảnh minh họa: tuyenquang.gov.vn).

Ở cơ sở, những người trực tiếp đưa công nghệ đến với từng hộ dân chính là các Tổ CNSCĐ. Với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người”, các thành viên không chỉ tuyên truyền mà còn trực tiếp cầm tay chỉ việc, từ cài đặt và kích hoạt tài khoản VNeID, thiết lập phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đến hướng dẫn giao dịch, thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) trên môi trường trực tuyến.

Đánh giá về hiệu quả CĐS tại địa phương, ông Nguyễn Gia Luyện, Chủ tịch UBND xã Yên Nguyên nhấn mạnh, chính sự đồng hành sát sao của Tổ CNSCĐ đã giúp người dân xóa bỏ những bỡ ngỡ ban đầu khi tiếp cận công nghệ.

Từ thực tế tại thôn Bảo Ninh (xã Yên Nguyên), ông Vũ Xuân Tuyên, Bí thư Chi bộ thôn, cho biết việc trực tiếp hỗ trợ người dân kích hoạt tài khoản VNeID, thanh toán điện tử và quảng bá nông sản trên các nền tảng trực tuyến đã bước đầu hình thành nếp sống số trong cộng đồng. Công nghệ không còn là điều xa lạ mà trở thành công cụ hỗ trợ thiết thực, giúp người dân thực hiện TTHC thuận tiện hơn, mở rộng kênh tiêu thụ nông sản, nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện đời sống.

Tại xã Bình An, tinh thần “đến từng nhà, hướng dẫn từng người” được thể hiện rõ trong chiến dịch “Mùa hè số cùng VNeID” và quá trình triển khai Đề án 06. Cán bộ Công an, đoàn viên, thanh niên và thành viên Tổ CNSCĐ đã tổ chức hỗ trợ người dân ngay tại các nhà văn hóa thôn, kể cả vào ngày nghỉ và buổi tối.

Anh Ma Văn Hiển, Bí thư Đoàn xã, cho biết đoàn viên, thanh niên tập trung hướng dẫn người dân kích hoạt tài khoản định danh điện tử mức độ 2, sử dụng các tiện ích số trong khám, chữa bệnh và thực hiện TTHC trực tuyến. Với người dân, hiệu quả của những buổi hướng dẫn ấy được thể hiện bằng những việc rất cụ thể.

Ông Giàng A Chềnh, người dân tộc Mông ở thôn Tân Hoa, phấn khởi cho biết giờ đây ông đã có thể tự khai báo tạm trú, tra cứu thông tin ngay trên điện thoại, mà không còn phải vượt đường xa lên trung tâm xã như trước.

Với người cao tuổi, hộ nghèo hay người dân ở vùng sâu, vùng xa, rào cản lớn nhất khi tiếp cận công nghệ đôi khi không nằm ở thiết bị mà ở tâm lý sợ sai, lo mất an toàn thông tin hoặc khó ghi nhớ các thao tác, mật khẩu. Từ thực tế đó, Tuyên Quang đẩy mạnh phong trào “Bình dân học vụ số”, trong đó chú trọng phương pháp hướng dẫn trực quan: cán bộ làm mẫu, người dân trực tiếp thực hành trên thiết bị của mình và được hướng dẫn, điều chỉnh ngay khi thao tác chưa đúng.

Phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người” của các Tổ CNSCĐ chính là lời giải thiết thực nhất cho bài toán “giảm nghèo về thông tin”. Khi công nghệ được hướng dẫn bằng những cách làm gần gũi và thiết thực, khoảng cách số ở vùng cao sẽ từng bước được thu hẹp nhanh chóng.

Quyết tâm “không để ai bị bỏ lại phía sau”

Dù đạt được nhiều kết quả ấn tượng, bức tranh CĐS ở Tuyên Quang vẫn còn những khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện. Khoảng cách số giữa các khu vực chưa được thu hẹp khi toàn tỉnh vẫn còn 199 thôn, bản chưa có sóng hoặc nằm trong vùng lõm sóng. Tại một số cơ sở, thiết bị còn thiếu đồng bộ, cấu hình thấp; cơ sở dữ liệu chuyên ngành còn phân tán và tình trạng xử lý song song văn bản giấy với hồ sơ điện tử vẫn diễn ra ở một số khâu.

Từ thực tế đó, trong những tháng cuối năm, Tuyên Quang tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW gắn với phong trào “Bình dân học vụ số”; củng cố các Tổ CNSCĐ sau sáp nhập thôn, tổ dân phố và tái khởi động Quỹ phát triển khoa học - công nghệ. Bên cạnh việc lắp đặt thêm 624 trạm 5G nhằm nâng tổng số lên 1.217 trạm, địa phương quyết tâm đưa kinh tế số chiếm 7,71% GRDP và giải ngân 100% nguồn vốn cho khoa học, công nghệ, CĐS [2].

Đặc biệt, nhằm thu hẹp khoảng cách số, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang Đỗ Hùng Đức chỉ đạo các địa phương cần chuyển mạnh từ tuyên truyền chung sang hướng dẫn trực tiếp, “cầm tay chỉ việc”, tập trung vào những kỹ năng thiết yếu như sử dụng DVCTT, thanh toán không dùng tiền mặt, bảo đảm an toàn thông tin, phòng tránh lừa đảo trên mạng và khai thác nền tảng số phục vụ học tập, sản xuất, kinh doanh. Cùng với đó, cần rà soát những nhóm còn hạn chế về kỹ năng số, nhất là người cao tuổi, người khuyết tật, hộ nghèo, hộ cận nghèo và người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS, từ đó có hình thức hỗ trợ phù hợp theo phương châm “đúng người, đúng nhu cầu”.

Từ “Bình dân học vụ số” đến xây dựng công dân số, CĐS ở Tuyên Quang đang được cụ thể hóa từ những việc gần gũi và thiết thực nhất tại cơ sở. Mỗi người biết thêm một kỹ năng số, mỗi hộ gia đình sử dụng thành thạo một dịch vụ trực tuyến, mỗi sản phẩm tìm được thêm một thị trường qua nền tảng số là thêm một bước thu hẹp khoảng cách số và mở ra cơ hội phát triển. Để rồi, ở những bản làng xa xôi, công nghệ không còn là điều xa lạ hay câu chuyện của riêng những đô thị lớn. Nó hiện diện trong chiếc điện thoại của người nông dân, trong những phiên livestream bán hàng, trong thao tác thực hiện TTHC hay một giao dịch không dùng tiền mặt. Chính quyền số, kinh tế số và xã hội số đang từng bước hình thành từ những chuyển dịch nhỏ ấy, tạo dựng một nền hành chính gần dân, kinh tế năng động và một cuộc sống thuận tiện hơn cho người dân vùng cao Tuyên Quang./.

Tài liệu tham khảo:

[1] Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2026), “Từ chiếc điện thoại thông minh đến cơ hội mới ở vùng cao”, https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/tu-chiec-dien-thoai-thong-minh-den-co-hoi-moi-o-vung-cao?type=NEWS&id=252821, truy cập ngày 2/9/2026.

[2] Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2026), “Tổ công nghệ số cộng đồng: Động lực lan tỏa chuyển đổi số từ cơ sở”, https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/to-cong-nghe-so-cong-dong-dong-luc-lan-toa-chuyen-doi-so-tu-co-so?type=NEWS&id=248413, truy cập ngày 2/9/2026.

Ánh Dương