Đưa pháp luật vào cuộc sống: Từ thực thi đến hiệu quả
Từ ban hành chính sách đến tổ chức thực thi hiệu quả là yêu cầu ngày càng cấp thiết, nhất là trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc tăng cường theo dõi, kiểm tra, ứng dụng dữ liệu và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn được xem là những yếu tố quan trọng để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống.
Ngày 11/9/2026, tại TP.HCM, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã tổ chức Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước (QLNN) của Bộ KH&CN.
Các nội dung tập huấn liên quan đến một số nội dung cơ bản của Nghị định số 80/2025/NĐ-CP về tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật và kỹ năng áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra công tác tổ chức thi hành pháp luật; Công tác tổ chức thi hành Luật Viễn thông, Luật Tần số vô tuyến điện (VTĐ); giải pháp chuyển đổi số (CĐS) trong tổ chức thi hành pháp luật.
Tham dự Hội nghị có Thứ trưởng KH&CN Phạm Đức Long, đại diện các cơ quan QLNN, lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN; Sở KH&CN các tỉnh, thành phố, doanh nghiệp (DN) .
Khi “đột phá của đột phá” đặt ra yêu cầu mới
Theo Thứ trưởng Phạm Đức Long, QLNN phải bằng Hiến pháp và pháp luật. Một quy định dù tốt đến đâu, nếu người dân khó thực hiện, DN phải chịu chi phí không cần thiết, cơ quan nhà nước áp dụng không thống nhất hoặc vướng mắc phát sinh không được xử lý kịp thời thì quy định đó chưa phát huy đầy đủ giá trị.
Vì vậy, tổ chức thi hành pháp luật là khâu trực tiếp đưa pháp luật vào cuộc sống và là một thước đo quan trọng về hiệu lực, hiệu quả QLNN. Đây là trách nhiệm của cả hệ thống, từ cơ quan xây dựng chính sách ở Trung ương đến các cơ quan tổ chức thực hiện tại địa phương.

Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá”, đồng thời chỉ rõ: “Tổ chức thực thi pháp luật vẫn là khâu yếu; thiếu cơ chế phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả”.
Theo Thứ trưởng Phạm Đức Long, đây là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc.
Thời gian qua, công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật đã được đẩy mạnh. Bộ KH&CN đã tham mưu xây dựng, trình ban hành 10 luật cùng nhiều nghị định, thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Khung pháp lý trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN và ĐMST) về cơ bản đã được hoàn thiện.
Khi thể chế ngày càng đầy đủ thì yêu cầu đối với tổ chức thi hành càng cao. "Cần quan tâm đến câu hỏi: Pháp luật sau khi ban hành đã tạo ra thay đổi gì trong thực tế? Đó là thay đổi đối với người dân, DN, đối với chất lượng và hiệu quả QLNN, cuối cùng là đối với mục tiêu phát triển mà chính sách đặt ra", Thứ trưởng nhấn mạnh và cho biết, Nghị định số 80/2025/NĐ-CP đã quy định khá đầy đủ các nội dung về tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Vấn đề hiện nay là tổ chức thực hiện các quy định đó như thế nào để thực chất, kịp thời và có kết quả.
Sáu vấn đề cần tập trung
Thứ trưởng Phạm Đức Long đề nghị các đơn vị thuộc Bộ và các Sở KH&CN địa phương tập trung vào sáu vấn đề:
Thứ nhất, chuẩn bị tổ chức thi hành ngay từ khi xây dựng chính sách.
Khi xây dựng một quy định mới, phải tính đến ngay việc thực hiện: ai thực hiện, thực hiện như thế nào, cần điều kiện gì, người dân và DN phải làm gì và kết quả được đánh giá bằng cách nào. Làm tốt từ đầu sẽ hạn chế tình trạng văn bản đã có hiệu lực nhưng việc thực hiện còn lúng túng hoặc phải hướng dẫn nhiều lần.
Thứ hai, bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất.
Các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ cần chủ động hướng dẫn những vấn đề thuộc phạm vi quản lý, nhất là những quy định mới hoặc những vấn đề dễ phát sinh cách hiểu khác nhau. Các Sở cần chủ động tổ chức thực hiện và phản ánh kịp thời những vấn đề phát sinh tại địa phương. Bộ phải hướng dẫn kịp thời, địa phương phải phản ánh kịp thời.
Thứ ba, đánh giá việc thực thi bằng kết quả.
Không nên chỉ đánh giá bằng số lượng văn bản, cuộc tập huấn, cuộc kiểm tra hay hồ sơ đã xử lý. Cần quan tâm đến những kết quả cụ thể: người dân thực hiện có thuận lợi hơn không; DN có giảm thời gian và chi phí tuân thủ không; việc áp dụng giữa các địa phương có thống nhất không; mục tiêu của chính sách có đạt được không. Chỉ khi đo được kết quả mới biết chính sách có được thực thi hiệu quả hay không.
Thứ tư, sử dụng công nghệ và dữ liệu để theo dõi việc thi hành
Trong điều kiện phân cấp, phân quyền ngày càng mạnh và phạm vi quản lý ngày càng rộng, không thể chỉ dựa vào báo cáo thủ công để nắm tình hình. Cần từng bước xây dựng các công cụ số để nhận biết quy định nào đang phát sinh nhiều vướng mắc, vấn đề tập trung ở đâu, có lặp lại hay không và nguyên nhân là gì.
Thứ trưởng đề nghị Cục Chuyển đổi số (CĐS) quốc gia và các đơn vị liên quan nghiên cứu, đề xuất các công cụ số phù hợp, kết nối với các hệ thống và cơ sở dữ liệu có liên quan, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”. Mục tiêu là có dữ liệu để quản lý và ra quyết định, không phải tạo thêm một hệ thống báo cáo.
Thứ năm, hình thành cơ chế phản ứng chính sách từ thực tiễn
Các đơn vị chuyên môn cần chủ động tiếp nhận, phân loại và xử lý kiến nghị của địa phương, DN và người dân. Những vấn đề thuộc thẩm quyền phải được giải quyết kịp thời. Những vấn đề vượt thẩm quyền hoặc có tính hệ thống phải được tổng hợp, báo cáo và đề xuất phương án xử lý. Nếu một vướng mắc xuất hiện ở nhiều nơi hoặc lặp đi lặp lại, cần xem xét nguyên nhân nằm ở đâu và có cần điều chỉnh chính sách hay không.
Theo Thứ trưởng, không chỉ xử lý từng trường hợp, mà phải xử lý nguyên nhân của vấn đề.
Thứ sáu, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm
Theo Thứ trưởng, phân cấp, phân quyền không có nghĩa là Trung ương làm thay địa phương. Nhưng Trung ương phải nắm được tình hình và bảo đảm việc thực hiện pháp luật thống nhất trong phạm vi ngành, lĩnh vực. Vì vậy, kiểm tra cần dựa trên thông tin và rủi ro, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh sai sót, những quy định có cách hiểu khác nhau và những vấn đề tác động lớn đến người dân, DN. Kiểm tra không chỉ để phát hiện sai phạm, mà còn để phòng ngừa, hướng dẫn và khắc phục những bất cập trong tổ chức thực hiện.

Từ thực tiễn Luật Tần số vô tuyến điện và Luật Viễn thông
Theo ông Lê Văn Tuấn, Cục trưởng Cục Tần số VTĐ, Luật Tần số VTĐ đang từng bước tạo nền tảng pháp lý cho việc khai thác hiệu quả tài nguyên phổ tần, đồng thời mở không gian cho các công nghệ mới phát triển.
Từ năm 2024, Việt Nam đã triển khai thành công cơ chế đấu giá quyền sử dụng các băng tần có giá trị thương mại cao. Các cuộc đấu giá băng tần 2,6 GHz, 3,7-3,9 GHz và 700 MHz góp phần nâng tổng lượng băng tần cấp cho thông tin di động lên khoảng 680 MHz. Đến tháng 7/2026, tốc độ tải xuống di động băng rộng đạt 205,6 Mbps, tăng khoảng 4 lần so với trước khi triển khai đấu giá băng tần.
Chính sách về tần số cũng được áp dụng để đo kiểm thiết bị và thử nghiệm công nghệ mới, trong đó có 5G-Advanced. Ngày 13/2/2026, Cục Tần số VTĐ cấp giấy phép sử dụng tần số và thiết bị VTĐ cho Công ty TNHH Starlink Services Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để triển khai hệ thống thông tin vệ tinh quỹ đạo thấp tại Việt Nam.
Tuy nhiên, một số chính sách mới của Luật vẫn chưa được triển khai đầy đủ trên thực tế. Cơ chế cấp phép thông qua thi tuyển, chuyển nhượng quyền sử dụng tần số và một số cơ chế đặc thù khác chưa phát sinh trường hợp thực tế. Những hạn chế này chủ yếu xuất phát từ việc chưa đủ điều kiện về thời gian, pháp lý hoặc tính chất đặc thù của chính sách, thay vì thiếu cơ sở pháp lý.
Trong thời gian tới, công tác tổ chức thi hành Luật sẽ chuyển mạnh từ mô hình quản lý dựa nhiều vào điều kiện, hồ sơ và thủ tục trước cấp phép sang quản lý dựa trên dữ liệu, giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong quá trình khai thác.
Đối với Luật Viễn thông 2023, ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, cho biết, Luật đã từng bước tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho phát triển hạ tầng số và các dịch vụ viễn thông mới, trong đó có trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và một số dịch vụ viễn thông trên Internet.
Đến tháng 8/2026, cả nước có khoảng 46.320 trạm 5G, 26,56 triệu thuê bao 5G, vùng phủ đạt 91,9% dân số; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cáp quang đạt 87,6%. Có 42 trung tâm dữ liệu thương mại với tổng công suất khoảng 372,75 MW. Khoảng 114 triệu thuê bao di động đã được đối soát với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Đáng chú ý, 43/60 thủ tục hành chính đã được phân cấp cho địa phương, đồng thời một số điều kiện kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa, giúp giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho DN.
Trong thời gian tới, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện pháp luật, tăng cường phối hợp giữa Trung ương và địa phương, chia sẻ dữ liệu về hạ tầng, DN, chất lượng dịch vụ và thuê bao, từng bước chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý dựa trên dữ liệu. Sở KH&CN cần trở thành “kênh phản hồi chính sách” từ thực tiễn, tổng hợp khó khăn, bất cập để báo cáo cơ quan Trung ương xem xét, hoàn thiện pháp luật.
Thi hành pháp luật trong môi trường số
Theo ông Trần Kiên, Cục CĐS quốc gia, CĐS trong tổ chức thi hành pháp luật không chỉ là ứng dụng phần mềm, mà trước hết nhằm quản lý công việc rõ hơn, theo dõi tiến độ tốt hơn và xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh.
Theo tinh thần Nghị định 80/2025/NĐ-CP, quá trình tổ chức thi hành pháp luật cần được thực hiện xuyên suốt từ lập kế hoạch, giao nhiệm vụ, phổ biến và hướng dẫn pháp luật đến giám sát, kiểm tra, tiếp nhận phản ánh và hoàn thiện chính sách.
Có thể hình thành “vòng đời số” trong thi hành pháp luật: chuyển các quy định thành danh mục nhiệm vụ có người phụ trách, thời hạn và trạng thái xử lý; xây dựng kênh tiếp nhận, phân loại và theo dõi kiến nghị; sử dụng dữ liệu để xác định lĩnh vực, địa bàn cần ưu tiên kiểm tra.
Ở góc độ pháp lý, bà Nguyễn Thị Minh Phương, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp, cho biết Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã bổ sung, làm rõ nhiều quy định về tổ chức thi hành pháp luật. Nghị định 80/2025/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa các quy định này, từ xây dựng kế hoạch, phổ biến và hướng dẫn áp dụng, tiếp nhận và xử lý kiến nghị đến kiểm tra, theo dõi, sơ kết, tổng kết và báo cáo.

Nghị định cũng thiết lập cơ chế thu thập, xử lý thông tin từ nhiều nguồn để làm cơ sở sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản, tăng cường hướng dẫn, xử lý các quy định mâu thuẫn, chồng chéo và nâng cao hiệu quả thi hành.
Từ tổ chức thi hành đến hoàn thiện chính sách
Theo Thứ trưởng Phạm Đức Long, tổ chức thi hành pháp luật không phải là công việc riêng của cơ quan pháp chế. Cơ quan pháp chế có vai trò tham mưu, hướng dẫn, theo dõi và tổng hợp. Các đơn vị chuyên môn trực tiếp quản lý từng lĩnh vực. Các Sở KH&CN trực tiếp tổ chức thực hiện tại địa phương và nắm bắt những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.
Vì vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương. Thông tin từ địa phương phải trở thành một nguồn dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý của Bộ, còn hướng dẫn của Bộ phải đến được cơ sở và được thực hiện thống nhất. Từ đó hình thành một vòng khép kín: Xây dựng chính sách - tổ chức thực hiện - theo dõi kết quả - phát hiện vấn đề - xử lý, điều chỉnh - hoàn thiện chính sách.
Muốn làm tốt công tác này, Thứ trưởng đề nghị tiếp tục kiện toàn đội ngũ làm công tác pháp chế và tổ chức thi hành pháp luật; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng áp dụng pháp luật, theo dõi và xử lý vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Đồng thời, các đơn vị cần xác định rõ: quy định nào cần tập trung tổ chức thi hành; vấn đề nào đang vướng; nguyên nhân ở đâu; ai có trách nhiệm xử lý; và làm thế nào để biết việc xử lý đã thực sự có kết quả.
Giai đoạn hiện nay đòi hỏi nâng cao năng lực tổ chức thực thi, để pháp luật được đưa vào cuộc sống nhanh hơn, thống nhất hơn và hiệu quả hơn. Theo Thứ trưởng, toàn Ngành cần thống nhất một cách làm: Quy định phải rõ, thực hiện phải thống nhất, kết quả phải đo được, vướng mắc phải được xử lý kịp thời, thực tiễn phải trở thành căn cứ để hoàn thiện chính sách.
Đó là cách thiết thực để từng bước khắc phục điểm yếu trong tổ chức thực thi pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QL NN, tạo môi trường thuận lợi hơn cho người dân, DN và sự phát triển của đất nước./.