Việt Nam - Liên bang Nga hợp tác phát triển dịch vụ tin cậy và công nhận chữ ký số
Việt Nam và Liên Bang Nga hướng tới cơ chế trao đổi Danh sách tin cậy chung (Joint Trust List), nghiên cứu phương án thí điểm (pilot) công nhận chữ ký số trong các lĩnh vực ưu tiên như hải quan điện tử, đồng thời thống nhất thành lập nhóm công tác kỹ thuật chung để xúc tiến ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MoU) giai đoạn 2026 - 2030.

Trong khuôn khổ chuyến công tác tại Liên bang Nga, ngày 07/9/2026, tại thủ đô Moscow, Đoàn công tác của Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (NEAC) do bà Tô Thị Thu Hương, Giám đốc Trung tâm làm Trưởng đoàn đã có phiên làm việc song phương quan trọng với Bộ Phát triển kỹ thuật số, Truyền thông và Thông tin đại chúng Liên bang Nga cùng các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực và an toàn thông tin của Liên bang Nga.
Tham gia đoàn công tác Việt Nam có bà Lê Hương Giang, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ; bà Nguyễn Minh Hằng, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, cùng đại diện lãnh đạo các phòng chuyên môn của NEAC.
Về phía Bộ Phát triển kỹ thuật số, Truyền thông và Thông tin đại chúng Liên bang Nga, buổi làm việc có sự tham dự của bà Skvortsova Tatyana Vladimirovna, Vụ trưởng Vụ Phát triển công nghệ định danh số trực (đơn vị chịu trách nhiệm vận hành hạ tầng kỹ thuật của CA gốc và CA Quốc gia của Nga); ông Bogatikov Mikhail Andreevich, Quyền Vụ trưởng Vụ An ninh mạng, lãnh đạo Vụ Phát triển truyền thông đại chúng và hợp tác quốc tế.
Ngoài ra, tham dự buổi họp còn có đại diện Vụ An ninh mạng (Bộ Tài chính Nga), Viện Nghiên cứu Khoa học Nhà nước Liên bang Voskhod, cùng đại diện các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực và an toàn thông tin lớn của Nga như Công ty CP SKB Kontur, Crypto-Pro, Gazinformservice và Taxcom.
Bức tranh phát triển và mục tiêu phổ cập chữ ký số tại Việt Nam
Tại buổi làm việc, đại diện NEAC đã chia sẻ bức tranh tổng thể về thị trường và công tác quản lý chữ ký số (CKS), dịch vụ tin cậy tại Việt Nam. Theo đó, tính đến hết tháng 8/2026, toàn quốc đã cấp phát khoảng 33,66 triệu chứng thư CKS, nâng tỷ lệ phổ cập CKS trong dân số trưởng thành lên mức 48,65%.

Không dừng lại ở các lĩnh vực dịch vụ công truyền thống như thuế điện tử, hải quan hay bảo hiểm xã hội, CKS đang được mở rộng ứng dụng mạnh mẽ trong y tế, giáo dục, tài chính - ngân hàng, công chứng, hợp đồng điện tử...
Đoàn công tác khẳng định mục tiêu chiến lược quốc gia là tích cực thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, phấn đấu đến năm 2030 đạt 70% dân số trưởng thành sở hữu CKS.
Quản lý, làm chủ công nghệ mã hóa và vận hành mô hình Bên thứ ba tin cậy (TTP)
Phía Nga đã chia sẻ kinh nghiệm phân cấp quản lý nhà nước đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực (CA/TSP) giữa Bộ Phát triển kỹ thuật số với Cơ quan Thuế Liên bang, Ngân hàng Trung ương và Kho bạc Liên bang.
Hai bên cũng đi sâu thảo luận về bộ tiêu chí cấp phép, quy trình kiểm toán, hậu kiểm kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống giao dịch điện tử.
Báo cáo về năng lực làm chủ hạ tầng lõi, đại diện Viện Nghiên cứu Khoa học Voskhod đã trình bày chi tiết về hoạt động của Trung tâm Chứng thực Quốc gia (NCC). Hệ thống của Nga hiện đang duy trì cấp phát chứng chỉ TLS hỗ trợ song song cả chuẩn mật mã quốc tế RSA và chuẩn mật mã nội địa GOST.
Theo số liệu báo cáo năm 2026, NCC đã cấp phát 12.135 chứng chỉ với 4 loại DV RSA, DV Roct, OV RSA, OV Roct. Trong đó, chứng chỉ theo chuẩn quốc tế chiếm tỷ trọng lớn với dòng OV RSA đạt 67,27%, DV RSA đạt 12,03% và chứng thư DV qua giao thức tự động ACME đạt 12,98%. Đối với dòng chứng thư sử dụng thuật toán nội địa GOST, tỷ lệ ghi nhận là 6,58% cho DV GOST và 1,15% cho OV GOST.

Bên cạnh đó, Liên bang Nga phát triển chữ ký số di động cho cán bộ và người dân với các ứng dụng ký số do Liên bang Nga phát triển hoặc do các doanh nghiệp, cá nhân tự phát triển. Liên Bang Nga đã mở rộng và tạo lập 9.000 trạm định danh để cấp chứng thư CKS cho người dân. Hiện nay, Liên Bang Nga có hơn 110 triệu chứng thư CKS phát hành cho người dân.
Bổ trợ cho hạ tầng phần mềm, đại diện Công ty Crypto-Pro cũng giới thiệu giải pháp thiết bị bảo mật phần cứng chuyên dụng (HSM) độc lập do đơn vị tự nghiên cứu và sản xuất, hiện đang được cung cấp để bảo đảm an toàn mật mã trên toàn lãnh thổ Nga.
Cùng với công nghệ mã hóa, các chuyên gia phân tích bài học thực tiễn trong việc triển khai mô hình Bên thứ ba tin cậy (Trusted Third Party - TTP). Những bài học từ việc Liên bang Nga ứng dụng TTP phục vụ trao đổi tài liệu điện tử xuyên biên giới với các đối tác như Kazakhstan, Belarus và Trung Quốc mang lại nhiều giá trị tham khảo thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế và giải pháp kỹ thuật của Việt Nam.
Thúc đẩy xây dựng Danh sách tin cậy chung và công nhận lẫn nhau
Một trong những nội dung trọng tâm của buổi làm việc là định hướng hợp tác công nhận lẫn nhau về CKS nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại điện tử, logistics và thủ tục hành chính song phương giữa hai nước. Đại diện hai cơ quan nhất trí cao về việc phối hợp rà soát, đối chiếu khung pháp lý tương đương, đồng thời nghiên cứu các giải pháp tương thích về tiêu chuẩn mật mã và định dạng dữ liệu.
Hai bên đề xuất hướng tới thiết lập cơ chế trao đổi Danh sách tin cậy chung (Joint Trust List), nghiên cứu phương án thí điểm (pilot) công nhận CKS trong các lĩnh vực ưu tiên như hải quan điện tử, đồng thời thống nhất thành lập nhóm công tác kỹ thuật chung để xúc tiến ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MoU) giai đoạn 2026 - 2030.
Kết nối thực tiễn và lộ trình công tác tiếp theo
Ngay sau phiên làm việc với Bộ Phát triển kỹ thuật số Nga, Đoàn công tác NEAC đã đến thăm và làm việc với Công ty Cổ phần SKB Kontur - đơn vị hàng đầu tại Nga về giải pháp hóa đơn và trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) xuyên biên giới.
Tại đây, hai bên đã thảo luận chi tiết về mô hình kết nối, chuẩn trao đổi dữ liệu an toàn và các điều kiện bảo đảm giá trị pháp lý cho văn bản điện tử giữa các cơ quan, doanh nghiệp hai nước.
Theo lịch trình công tác, Đoàn sẽ tham dự Diễn đàn Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt - Nga tại Moscow, đồng thời có các buổi làm việc kỹ thuật chuyên sâu với Công ty TNHH Gazinformservice (GIS) nhằm tiếp tục nghiên cứu mô hình vận hành TTP và công tác kiểm toán kỹ thuật đối với các dịch vụ tin cậy./.