KH&CN địa phương

Lâm Đồng xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, nâng cao giá trị nông sản

19/08/2026 07:21

Hệ thống quản lý thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa tỉnh Lâm Đồng được xây dựng theo kiến trúc mở, bước đầu đưa vào vận hành thử nghiệm và triển khai thí điểm đối với cà phê Arabica Đà Lạt và sầu riêng Đạ Huoai, góp phần minh bạch thông tin sản phẩm và nâng cao khả năng kết nối trong chuỗi cung ứng.

Hoàn thiện nền tảng truy xuất nguồn gốc tập trung

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, truy xuất nguồn gốc đang trở thành một trong những yêu cầu quan trọng đối với sản phẩm, hàng hóa, đặc biệt là nông sản. Việc ứng dụng công nghệ để quản lý và minh bạch thông tin sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng mà còn tạo cơ sở để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và xây dựng thương hiệu.

Tại Lâm Đồng, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) vừa tổ chức Hội đồng KH&CN chuyên ngành đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh “Xây dựng hệ thống quản lý thông tin truy xuất nguồn gốc của tỉnh Lâm Đồng và triển khai thí điểm mô hình truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm Cà phê Arabica Đà Lạt và Sầu riêng Đạ Huoai”. Nhiệm vụ do Viettel Lâm Đồng chủ trì thực hiện.

438-202608181544431.jpg

Đề tài được triển khai với mục tiêu xây dựng Hệ thống quản lý thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa tỉnh Lâm Đồng theo mô hình tập trung, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời sẵn sàng kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Song song với việc xây dựng hệ thống quản lý chung, đề tài lựa chọn hai sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh là cà phê Arabica Đà Lạt và sầu riêng Đạ Huoai để triển khai thí điểm. Đây là bước đi nhằm kiểm chứng khả năng vận hành của hệ thống trong thực tế, đồng thời hình thành mô hình có thể tiếp tục mở rộng cho các ngành hàng khác.

Trong quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu đã hoàn thành việc phân tích, thiết kế và xây dựng hệ thống phần mềm quản lý thông tin truy xuất nguồn gốc. Các quy trình nghiệp vụ và luồng dữ liệu từ vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm được phân tích, đặc tả đầy đủ, tạo nền tảng cho việc quản lý thông tin theo từng công đoạn của chuỗi sản xuất.

Hệ thống được thiết kế theo kiến trúc mở, với hơn 120 chức năng và chức năng thành phần. Thiết kế này cho phép hệ thống có khả năng mở rộng, tích hợp các thiết bị IoT và các nền tảng số trong tương lai. Cơ chế kết nối, đồng bộ dữ liệu tập trung cũng được chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn hiện hành, hướng tới đáp ứng yêu cầu liên thông với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Đến nay, hệ thống đã hoàn thành cài đặt và được đưa vào vận hành thử nghiệm tại địa chỉ https://truyxuatnguongoc.lamdong.gov.vn.

Truy xuat Lam Dong
Hệ thống được đưa vào vận hành thử nghiệm tại địa chỉ https://truyxuatnguongoc.lamdong.gov.vn.

Hình thành cơ sở dữ liệu từ thực tiễn sản xuất

Không chỉ dừng ở việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đề tài đã đưa hệ thống vào triển khai thực tế và bước đầu ghi nhận những kết quả tích cực.

Theo kết quả thực hiện, hệ thống đã cấp tài khoản và phân quyền cho 69 doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) với 279 thành viên tham gia sử dụng. Cơ sở dữ liệu (CSDL) bước đầu hình thành với 23 vùng sản xuất, 19 nhà xưởng, 8 loại vật tư và 250 nhật ký sản xuất được cập nhật trong quá trình vận hành.

Trên nền tảng dữ liệu này, 99 sản phẩm và 136 lô hàng đã được quản lý theo từng lô sản xuất, gắn mã QR và tích hợp thông tin truy xuất nguồn gốc. Việc quản lý theo từng lô giúp hình thành lịch sử dữ liệu của sản phẩm, từ đó hỗ trợ DN, HTX trong kiểm soát quá trình sản xuất và cung cấp thông tin cho các bên liên quan.

Các DN, HTX tham gia cũng được hỗ trợ đăng ký các mã số định danh theo tiêu chuẩn quốc tế như MSMV, GLN và GTIN. Việc chuẩn hóa mã định danh góp phần nâng cao tính thống nhất của dữ liệu, đồng thời tạo thuận lợi cho khả năng kết nối và trao đổi thông tin trong chuỗi cung ứng.

Để hỗ trợ các đơn vị tiếp cận và sử dụng hệ thống, nhóm thực hiện đã tổ chức 3 hội thảo chuyên đề giới thiệu hệ thống, hướng dẫn sử dụng và đánh giá kết quả triển khai thí điểm đối với cà phê Arabica Đà Lạt và sầu riêng Đạ Huoai.

Dữ liệu phục vụ triển khai được thu thập từ 10 mô hình thí điểm, gồm 5 mô hình sầu riêng tại Đạ Huoai và 5 mô hình cà phê Arabica tại Đà Lạt. Theo đánh giá của Hội đồng, các mô hình này có tính đại diện cho những vùng sản xuất trọng điểm của tỉnh. Dữ liệu được thu thập trực tiếp từ các hộ sản xuất, kinh doanh nên có độ tin cậy, góp phần phản ánh tương đối sát thực tế quá trình sản xuất và quản lý sản phẩm.

Bên cạnh đó, đề tài đã hoàn thiện hệ thống tài liệu phục vụ quản lý, đào tạo và chuyển giao công nghệ. Ba bộ tài liệu hướng dẫn chung được xây dựng cho toàn hệ thống, trong đó hướng dẫn chi tiết việc khai thác, cập nhật dữ liệu, quản lý và sử dụng tem truy xuất nguồn gốc đối với từng nhóm đối tượng.

438-202608181544432.jpg
Sầu riêng được gắn tem truy xuất nguồn gốc.

Hai bộ tài liệu chuyên biệt dành cho mô hình thí điểm cà phê Arabica Đà Lạt và sầu riêng Đạ Huoai cũng được hoàn thiện. Nội dung tập trung hướng dẫn DN, HTX chuẩn hóa quy trình thu thập và quản lý dữ liệu từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng.

Theo nhóm thực hiện, đây là cơ sở để tổ chức đào tạo, vận hành, bàn giao và từng bước nhân rộng hệ thống trên phạm vi toàn tỉnh, đồng thời tạo nền tảng mở rộng áp dụng cho các ngành hàng nông sản khác.

Hướng tới hệ thống truy xuất có khả năng mở rộng

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, Hội đồng KH&CN chuyên ngành nhận định hồ sơ báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt được chuẩn bị tương đối đầy đủ, bảo đảm các quy định hiện hành. Đề tài đã hoàn thành các sản phẩm theo hợp đồng đặt hàng, gồm hệ thống quản lý thông tin truy xuất nguồn gốc, cổng thông tin điện tử, hệ thống CSDL trung tâm và bộ tài liệu kỹ thuật.

Về chất lượng, hệ thống đáp ứng tiêu chuẩn GS1 quốc tế, có khả năng kết nối, liên thông với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia và hỗ trợ nhiều chuẩn mã vạch hiện đại. Qua đó, DN và HTX có thêm công cụ để quản lý vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất cũng như lịch sử giao dịch của từng lô sản phẩm.

Một trong những điểm đáng chú ý của hệ thống là kiến trúc mở, cho phép tiếp tục mở rộng phạm vi ứng dụng đối với nhiều ngành hàng nông sản chủ lực khác. Nếu được vận hành và nhân rộng hiệu quả, hệ thống sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng tính minh bạch của sản phẩm và hỗ trợ nâng cao sức cạnh tranh của nông sản tỉnh Lâm Đồng trên thị trường.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Hội đồng đề nghị nhóm thực hiện tiếp tục hoàn thiện hồ sơ và các nội dung kỹ thuật trước khi nghiệm thu chính thức.

Cụ thể, nhóm thực hiện cần bổ sung nội dung đánh giá, kiểm thử các chức năng của hệ thống; cung cấp văn bản xác nhận của Trung tâm Mã số Mã vạch Quốc gia về việc hệ thống đã kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia. Đây là cơ sở để khẳng định khả năng liên thông của hệ thống cũng như mức độ đáp ứng các yêu cầu liên quan.

Hội đồng đồng thời đề nghị đơn vị chủ trì xây dựng phương án bảo trì, vận hành và nâng cấp hệ thống trong dài hạn; hoàn thiện bộ tài liệu hướng dẫn cài đặt, vận hành theo từng bước để Sở KH&CN tỉnh Lâm Đồng có thể tiếp nhận, làm chủ và khai thác hiệu quả hệ thống sau khi bàn giao.

Đối với hồ sơ chuyển giao, cần bổ sung đầy đủ dự toán kinh phí duy trì hệ thống; đồng thời hoàn thiện các nội dung liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả đối với phần mềm trước khi bàn giao cho Sở KH&CN tỉnh Lâm Đồng.

Việc hoàn thiện các yêu cầu này không chỉ nhằm bảo đảm đầy đủ hồ sơ nghiệm thu mà còn có ý nghĩa đối với quá trình vận hành hệ thống sau khi kết thúc nhiệm vụ. Khi CSDL được duy trì, cập nhật thường xuyên và có khả năng kết nối, chia sẻ, truy xuất thông tin, công nghệ truy xuất nguồn gốc sẽ trở thành công cụ hỗ trợ quản lý sản phẩm xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến thị trường.

Qua mô hình thí điểm với cà phê Arabica Đà Lạt và sầu riêng Đạ Huoai, Lâm Đồng đang từng bước hình thành nền tảng công nghệ phục vụ quản lý truy xuất nguồn gốc theo hướng tập trung, chuẩn hóa và có khả năng mở rộng. Đây cũng là cơ sở để các DN, HTX nâng cao tính minh bạch của sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường và người tiêu dùng./.