Nhân giống, phục hồi và phát triển sản phẩm từ cây Cốt toái bổ
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng vừa tổ chức Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Thử nghiệm nhân giống và phát triển sản phẩm từ cây Cốt toái bổ tại tỉnh Lâm Đồng (Đắk Nông cũ)”. Kết quả nghiên cứu mở ra hướng bảo tồn nguồn gen, phục hồi quần thể tự nhiên và phát triển sản phẩm dược liệu từ loài cây quý này.
Suy giảm nguồn dược liệu quý trong tự nhiên
Cốt toái bổ, còn gọi là Tắc kè đá, có tên khoa học Drynaria bonii Christ, là loài thực vật phụ sinh có giá trị dược liệu cao, được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền. Cây được dùng để hỗ trợ điều trị các chứng đau nhức xương khớp, gãy xương, thận hư, đau răng, ù tai và một số bệnh lý khác.

Tuy nhiên, nguồn Cốt toái bổ hiện chủ yếu được khai thác từ tự nhiên. Giá trị kinh tế cao cùng nhu cầu sử dụng lớn khiến tình trạng khai thác tự phát diễn ra trong thời gian dài, trong đó có việc khai thác toàn cây. Cùng với nạn phá rừng và tác động của các hoạt động khai thác, diện tích phân bố cũng như trữ lượng của loài đang suy giảm nghiêm trọng.
Cốt toái bổ hiện được xếp vào nhóm Sắp nguy cấp (Vulnerable - VU) trong Sách Đỏ Việt Nam và thuộc Nhóm IIA - nhóm loài hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/9/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
Xuất phát từ thực tiễn trên, nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) do PGS. TS. Lưu Hồng Trường, Viện Công nghệ Tiên tiến (trước đây là Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng) - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam làm chủ nhiệm được triển khai nhằm xây dựng cơ sở khoa học phục vụ bảo tồn, phục hồi và phát triển bền vững nguồn gen Cốt toái bổ tại khu vực Đắk Nông cũ.
Đề tài tập trung vào các mục tiêu chính gồm: xác định hiện trạng phân bố, mức độ khai thác và nhu cầu tiêu thụ Cốt toái bổ; nghiên cứu quy trình nhân giống vô tính; xây dựng mô hình phục hồi nguồn gen trong điều kiện tự nhiên; đồng thời đánh giá hoạt tính sinh học và hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất cao chiết từ loài dược liệu này.
Trong quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu đã khảo sát hiện trạng phân bố Cốt toái bổ tại ba khu vực trọng điểm gồm: Vườn quốc gia Tà Đùng, Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và khu vực Thác Mơ.
Kết quả cho thấy nguồn tài nguyên Cốt toái bổ tại Vườn quốc gia Tà Đùng đang suy giảm nghiêm trọng do tình trạng khai thác kéo dài. Loài chỉ được ghi nhận trên 2 tuyến khảo sát, với mật độ trung bình dưới 5 cá thể/ha.
Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung, mật độ phân bố được duy trì ở mức trung bình, khoảng 21,5 cá thể/ha. Trong khi đó, khu vực Thác Mơ còn lưu giữ quần thể tự nhiên khá phong phú, được bảo tồn tốt, với mật độ gần 85 cá thể/ha. Đây được xác định là nguồn gen bản địa quan trọng phục vụ nhân giống và phục hồi quần thể ngoài tự nhiên.
Kết quả điều tra cũng cho thấy, Cốt toái bổ đứng thứ 11 trong số 275 loài cây thuốc được ưa chuộng và tiêu thụ nhiều tại tỉnh Đắk Nông cũ. Sản lượng tiêu thụ ước khoảng 11,7 tấn dược liệu khô mỗi năm, tương đương khoảng 117 tấn nguyên liệu tươi khai thác từ tự nhiên.
Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu còn ghi nhận nhiều tri thức bản địa của đồng bào M'Nông trong sử dụng Cốt toái bổ để điều trị đau lưng, đau xương khớp, bong gân và gãy xương. Cây được sử dụng trong các bài thuốc ngâm rượu, sắc uống hoặc kết hợp với những vị thuốc dân gian khác.
Làm chủ quy trình nhân giống bằng bào tử
Một trong những kết quả nổi bật của đề tài là việc nhóm nghiên cứu tiếp thu quy trình nhân giống Cốt toái bổ bằng bào tử từ Đài Loan, đồng thời làm chủ và tối ưu hóa công nghệ để phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam.
Kết quả, nhóm nghiên cứu đã sản xuất thành công 550 cây giống Cốt toái bổ đạt tiêu chuẩn chất lượng, vượt chỉ tiêu đăng ký ban đầu là 400 cây. Cây giống sinh trưởng đồng đều, có chiều cao từ 3-5 cm, từ 2-5 lá thật, bộ rễ phát triển tốt và đủ điều kiện đưa ra trồng bảo tồn.
Trên cơ sở kết quả nhân giống, nhóm nghiên cứu phối hợp với Ban Quản lý Vườn quốc gia Tà Đùng xây dựng mô hình phục hồi nguồn gen quy mô 1 ha tại tiểu khu 1803, thuộc sinh cảnh rừng tự nhiên ẩm dọc suối - môi trường phù hợp với đặc tính sinh thái của Cốt toái bổ.
Toàn bộ 550 cây giống được gắn lên giá thể và đưa ra trồng thực địa. Mỗi cây gỗ lớn được bố trí từ 1-3 cá thể, đồng thời các cây được đánh mã số riêng để theo dõi quá trình sinh trưởng.
Sau 4 tháng, tỷ lệ cây sống đạt 85%, tương ứng 468 cây, vượt yêu cầu nghiệm thu ban đầu. Kết quả này là cơ sở để nhóm nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật bảo tồn Cốt toái bổ, từ khâu gieo ươm bằng bào tử đến kỹ thuật trồng phục hồi trong rừng tự nhiên.
Song song với công tác bảo tồn nguồn gen, đề tài đã tiến hành đánh giá hoạt tính sinh học của Cốt toái bổ và xây dựng quy trình công nghệ sản xuất cao chiết từ cây.
Quy trình chiết xuất được tối ưu bằng phương pháp đáp ứng bề mặt (RSM), đồng thời xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng đối với sản phẩm cao chiết. Quy trình đã được Hội đồng Khoa học của Viện Công nghệ Tiên tiến thẩm định và phê duyệt.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đồng thời đã được công bố trên Tạp chí quốc tế Biocatalysis and Agricultural Biotechnology, xếp hạng Q1 theo Scimago, góp phần khẳng định giá trị khoa học và tính ứng dụng của nhiệm vụ.
Cơ sở cho mô hình kinh tế xanh
Đánh giá kết quả thực hiện, Hội đồng nghiệm thu nhận định đề tài đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu, nội dung và sản phẩm theo thuyết minh được phê duyệt. Nhiệm vụ đã ứng dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật tiên tiến, nổi bật là làm chủ quy trình nhân giống Cốt toái bổ từ bào tử và xây dựng quy trình sản xuất cao chiết.

Đây là nhiệm vụ có tính liên ngành cao, kết hợp giữa lâm nghiệp, đa dạng sinh học, công nghệ tế bào và hóa dược, góp phần giải quyết đồng thời yêu cầu bảo tồn nguồn gen và khai thác bền vững một loài dược liệu quý đang bị đe dọa trong tự nhiên.
Hội đồng đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu các ý kiến góp ý để hoàn thiện hồ sơ trước khi công nhận kết quả. Trong đó, cần rà soát, chuẩn hóa tài liệu tham khảo; bổ sung các quy định pháp luật hiện hành và biên bản liên quan; cập nhật đầy đủ đặc điểm sinh học, sinh thái và phân bố của loài; hoàn thiện các nội dung về khuyến nghị, kiến nghị, quyền sở hữu trí tuệ và quy trình bàn giao kết quả nghiên cứu theo đúng quy định.
Với những kết quả đạt được, nhiệm vụ không chỉ cung cấp cơ sở khoa học cho việc nhân giống và phục hồi Cốt toái bổ mà còn tạo tiền đề phát triển các sản phẩm dược liệu từ loài cây này. Việc kết hợp bảo tồn nguồn gen với phát triển sản phẩm có giá trị có thể góp phần giảm áp lực khai thác từ tự nhiên, đồng thời mở ra hướng phát triển kinh tế xanh gắn với bảo vệ hệ sinh thái rừng tại Vườn quốc gia Tà Đùng và khu vực lân cận./.